Thứ Sáu, 8/05/2026
24.5 C
Ho Chi Minh City
Html code here! Replace this with any non empty raw html code and that's it.

Dạy khoa học xã hội thời 4.0: Prometheus vẫn bị xiềng?

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

Dạy khoa học xã hội thời 4.0: Prometheus vẫn bị xiềng?

Diễm Trang

(TBKTSG) - Hội trường trường PTTH Lê Hồng Phong (TPHCM) ngày cuối tuần chật kín. Giáo viên các môn khoa học xã hội của trường PTTH Lê Hồng Phong, trường PTTH chuyên Thoại Ngọc Hầu (An Giang) và nhiều trường khác tề tựu nơi đây để dự buổi thao giảng môn văn. Chương trình này nằm trong chuỗi hoạt động của kế hoạch “Đổi mới phương pháp giảng dạy các môn khoa học xã hội trong nhà trường phổ thông tỉnh An Giang (2017-2018)” do trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TPHCM kết hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh An Giang thực hiện.

Cô giáo 9X Kiều Mỹ Lan của trường PTTH Lê Hồng Phong lập tức gây ấn tượng với học sinh và người dự thính bởi phong thái trẻ trung, hiện đại, điềm tĩnh, nắm vững kiến thức bài giảng và cực kỳ nhạy bén với công nghệ thông tin. Cô Lan từng đoạt giải nhất cuộc thi “Giáo viên sáng tạo trên nền tảng công nghệ thông tin” năm 2016-2017. Hôm nay, cô tái hiện bảng tương tác “Ôn tập văn học dân gian Việt Nam” từng đoạt giải của mình và học sinh của cô là các em lớp 10 chuyên lý. Cô sử dụng các phương pháp: trò chơi ô chữ, nối tên tác phẩm và thể loại, sử dụng đồng hồ đếm ngược, hiệu ứng kính lúp để tìm chất liệu văn học dân gian trong văn bản văn học hiện đại, chèn video clip, thảo luận nhóm... Mục tiêu và ý nghĩa mà cô Lan muốn truyền tải qua bài giảng này là: tích cực hóa hoạt động dạy học, tạo môi trường tương tác tại lớp học, lấy người học làm trung tâm, đổi mới phương pháp giảng dạy và đánh giá, phát huy tính chủ động sáng tạo của học sinh.

Sau phần thao giảng là phần thảo luận. Nhiều ý kiến đánh giá tốt sự sáng tạo và ứng dụng bài bản công nghệ thông tin của cô Lan nhưng băn khoăn không biết áp dụng vào thực tế trường mình như thế nào. Bởi, mô hình giảng dạy của bài thao giảng được áp dụng tại một trường chuyên thuộc tốp đầu của thành phố lớn nhất nước với quá nhiều điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất, về người dạy, người học mà không phải cơ sở giảng dạy nào cũng có. Thêm nữa, trong một, hai tiết dạy mà áp dụng quá nhiều “thủ thuật” như thế liệu có quá tải?

Tiếp theo đó là những nội dung ngoài lề nhưng cực kỳ trăn trở. Người dạy không “cất cánh” được vì phải bở hơi tai canh ke thời lượng chương trình; bị các quy chế thi cử, thanh tra, quản lý... trói buộc. Không phải trường nào cũng có cái diễm phúc “thầy chạy theo trò” như trường Lê Hồng Phong. Có giáo viên thừa nhận: “Chúng tôi “đè” trò xuống để ép chúng tiêu thụ những món ăn khó nuốt”. Nhiều giáo viên khác đồng tình rằng khi học sinh “quay lưng” với các môn văn học, lịch sử, địa lý... một cách có ý thức và thực dụng thì cũng không biết đổi mới phương pháp dạy ra sao. Bởi, sự thay đổi nào cũng cần có sự tham gia, thẩm định tích cực từ hai phía.

Những người dạy văn, sử, địa, giáo dục công dân... hôm nay nhất định không được nhượng bộ hay mặc cảm. Nếu đã xác định đó là sở nguyện thì cần kiêu hãnh và làm tốt nhất khả năng của mình.

Các ý kiến của thầy cô trong hơn hai giờ thảo luận đủ để thấy người thầy hôm nay phải là “người khổng lồ” để đáp ứng quá nhiều yêu cầu đổi mới mà đồng lương cứ còm cõi, để nắm bắt thực tiễn tiếp thu của học sinh và xoay rộng chém hẹp với những điều kiện khách quan lẫn chủ quan ở môi trường dạy học. Nó khiến tôi nghĩ đến hình ảnh nhân vật Prometheus trong thần thoại Hy Lạp. Chàng bị thần Zeus xiềng vào núi đá vì mang lửa cho loài người.

Cuộc đối thoại của những người gieo tri thức đã gợi ra khá nhiều suy ngẫm.

Trước hết, phải thấy rằng việc đưa công nghệ thông tin vào giảng dạy khoa học xã hội là nên làm. Người trẻ hôm nay rất thính nhạy với công nghệ. Do đó, muốn thu hút các em, người dạy học phải tạo được “meme” - tức chuỗi biểu tượng, hình ảnh, từ ngữ, hành động mang tính chất lan truyền với tần suất cao. Ngoài ra, giáo viên phải chú trọng đến nghệ thuật thị giác (visual art), sử dụng đa phương tiện (multimedia), cân bằng giữa kiến thức tinh hoa (elite) và văn hóa đại chúng (popular culture). Nếu giáo viên thao tác nhuần nhuyễn, học sinh sẽ có sự hứng thú nhất định, giảm bớt cảm giác sợ các môn khoa học xã hội. Những bảng tương tác cũng đã xác nhận hình ảnh người thầy viết bảng bụi phấn rơi rơi - hay xa xưa hơn, ông đồ ngồi trên sập cao - chính thức đi vào quá vãng. Thêm vào đó, sự tương tác giữa giáo viên và học sinh trong quá trình đố - đáp, thảo luận sẽ tạo ra các “dòng chảy vận động” trong lớp, tránh “sức ì” như các phương pháp truyền thống.

Vấn đề đặt ra ở đây là: đưa công nghệ vào những môn học, bài học nào và đưa bao nhiêu thì vừa? Làm sao để “sau tất cả” thì hồn cốt của bài giảng đọng lại tâm trí người học? Hãy quay lại bài thao giảng ở trên. Rõ ràng, một bài ôn tập thì hoàn toàn có thể sử dụng bảng tương tác. Nhưng nếu là cảm giác “Buồn vì thảm cảnh/Đứng lặng giờ lâu/Thương nỗi anh hùng đâu vắng tá?/Tiếc thay dấu vết luống còn lưu” của Trương Hán Siêu trong Phú sông Bạch Đằng thì hình ảnh nào đủ thuyết phục? Một giáo viên dạy sử kỳ cựu kể với tôi rằng: chỉ với phương pháp truyền giảng, cô đã khiến cả lớp học lặng đi khi nói đến nhà tù Côn Đảo. Sau này, hưởng ứng phong trào giáo án điện tử, cô vừa giảng vừa trình chiếu rất nhiều hình ảnh minh họa địa ngục trần gian ấy nhưng chưa bao giờ tìm được cái không khí “lặng đi” ngày nào. Còn với một vài giáo viên, từ khi lệ thuộc vào giáo án điện tử thì những ngày cúp điện hay máy móc trục trặc đồng nghĩa với việc “tắt” luôn bài giảng. Họ cũng xa lạ với việc trình bày bảng - kỹ năng cơ bản mà người dạy học phải có. Theo lẽ thường, khách đến nhà thì chủ sẽ thết đãi món ngon vật quý. Tôi hy vọng món ăn công nghệ do “con trẻ trong nhà” trưng ra ở buổi thao giảng trên chỉ là khai vị.

Và tôi chợt nhớ câu chuyện của riêng mình 12 năm trước, trong lớp cao học Văn học nước ngoài. Hôm đó, tôi hăng hái trình bày một vấn đề của kịch nói phương Tây với một power point được chuẩn bị khá công phu, nhiều hình ảnh và clip minh họa (khi ấy, việc ứng dụng trình chiếu vẫn còn mới). Nào ngờ, tôi nhận được lời đánh giá từ giáo sư như sau: “Bài trình bày của em đẹp và đó là ưu điểm lớn nhất”. Sau vài năm giảng dạy, tôi không còn “cay đắng” vì lời nhận xét đó nữa khi nhận ra rằng chính mình không còn hứng thú với các liệu pháp “trực quan sinh động”, diễn xướng. Nhiều hôm, tôi vò đầu bứt tóc vì phải “nhai lại” một bài giảng y chang hôm trước tại một lớp khác. Tôi thèm đưa những ý tưởng mới mẻ và sâu lắng hơn vào bài giảng. Tôi muốn giờ dạy của tôi là sự đào cùng tát cạn cảm xúc từ hai phía: người dạy và người học. Không chỉ tôi truyền cảm hứng cho người học mà ngay bản thân người học cũng ươm thêm xúc cảm cho tôi. Tôi đã từng vào rạp xem một vở kịch 13 lần và nhận ra người diễn viên tài năng luôn “làm khác” trong mỗi đêm diễn. Muốn vậy, tôi hiểu mình phải nghiên cứu, học tập thêm nhiều thứ. Mà quan trọng hơn là phải ngẫm, phải cảm, phải lắng nghe và không ngừng tra vấn. Không máy móc, phần mềm nào làm được điều đó ngoài trái tim tôi.

Tôi cho rằng, điều cốt lõi sau một bài giảng là tạo ra khuynh hướng cảm thụ và sự gợi mở (không phải là mở ô chữ). Những sắc màu tươi mới, những hành vi nhộn nhịp kia có chắc chắn khiến học sinh gần tâm hồn cha ông hơn, có khiến các em nhận ra sự thâm thúy của dòng văn học hay được gán cho cụm từ “bình dân”, “tiếng nói của người lao động nghèo”, có giúp các em nhận ra diện mạo tổng quan của văn học dân gian hay chỉ đơn thuần nhớ vài thể loại và tên tác phẩm? Cần phải tỉnh táo để thấy rằng, sự vui vẻ nhất thời không phải là cốt lõi của khoa học. Tầm đón đợi của người học là quan trọng nhưng không vì vậy mà thầy chỉ biết nuông chiều theo thị hiếu của trò. Nhất định phải “nâng” người học bằng trí tuệ, sự nhạy cảm và lòng tự tôn nghề nghiệp của người thầy.

Điều quan trọng nữa là, những người dạy văn, sử, địa, giáo dục công dân... hôm nay nhất định không được nhượng bộ hay mặc cảm. Nếu đã xác định đó là sở nguyện thì cần kiêu hãnh và làm tốt nhất khả năng của mình. Dạy khoa học xã hội là con đường chông gai và dễ bị phủ nhận vì thành quả của nó không phải là vật chất, sản phẩm cụ thể. Nhưng thiếu nó thì lại mai một phần hồn con người - thứ mà robot không “qua mặt” được. Vậy thì, người dạy khoa học xã hội làm sao để vững vàng cầm phấn trong thời đại 4.0? Cần làm khác robot - vốn mạnh khả năng sao chép, nhân bản - bằng cách biến mình thành một chủ thể độc đáo. Đọc và đi nhiều hơn, ngẫm và viết như một thói quen, cả những điều khiến mình xuyến xao lẫn tuyệt vọng. Tập nói to, rõ và truyền cảm. Và để trái tim dẫn dắt công nghệ chứ đừng làm điều ngược lại.

Hãy nhớ, trước khi Zeus chính thức tháo xiềng cho Prometheus thì chàng đã luôn ngẩng cao đầu cùng lý tưởng và nhiệt tâm của mình! 

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

Tin liên quan

Có thể bạn quan tâm

Tin mới