(KTSG) - Hội thảo “Triển vọng kinh tế 2026: Doanh nghiệp FDI và lộ trình đồng hành cùng Việt Nam vươn mình” do Tạp chí Kinh tế Sài Gòn tổ chức vào ngày 2-4-2026 sắp tới sẽ giải mã nhiều “bí ẩn” kinh doanh của năm 2026.
Niềm tin kinh doanh của doanh nghiệp FDI tại Việt Nam đang ở mức cao, đầy hứng khởi. Đó không chỉ là “con số thống kê cao kỷ lục” cho thấy niềm tin kinh doanh đã hoàn toàn hồi phục về mức trước dịch Covid-19 mà còn là cột mốc đánh dấu giai đoạn điều chỉnh và thay đổi hành chính đầu năm 2025 “đã khép lại”, các yếu tố kìm hãm đà tăng trưởng đang được tháo gỡ. Song đà hưng phấn này được duy trì như thế nào trong thời gian tới vẫn là một ẩn số.

Đầu năm 2026, EuroCham công bố khảo sát quí 4-2025 cho thấy chỉ số niềm tin kinh doanh (BCI) của doanh nghiệp châu Âu đạt 80 điểm, mức cao nhất trong bảy năm qua. Có 68% số doanh nghiệp dự báo kinh tế Việt Nam sẽ ổn định và cải thiện; 88% lạc quan về giai đoạn 2026-2030, trong đó 31% thể hiện “rất lạc quan”. Doanh nghiệp EU đánh giá cao nỗ lực cải cách hành chính, chính sách thị thực và các quy định mới, hơn 50% số doanh nghiệp dự định mở rộng kinh doanh tại Việt Nam.
Cùng thời điểm, Cơ quan Xúc tiến thương mại Nhật Bản (JETRO) cũng công bố kết quả khảo sát tương tự. Có 67,5% số doanh nghiệp Nhật nói có lợi nhuận, 56,9% doanh nghiệp có kế hoạch mở rộng hoạt động kinh doanh trong 1-2 năm tới. Các chỉ số tại Việt Nam dẫn đầu khối ASEAN trong hai năm liên tiếp.
Chỉ số nhà quản trị mua hàng (PMI) của S&P Global trong tháng 2-2026 đạt 54,3 điểm, tăng so với 52,5 điểm của tháng 1. Chuỗi phục hồi sản xuất kéo dài sang tháng thứ tám liên tiếp, niềm tin doanh nghiệp đạt đỉnh trong 41 tháng.
Ông André de Jong, thành viên Ban điều hành EuroCham Việt Nam, giải thích rằng đó không chỉ đơn giản chỉ là “con số thống kê cao kỷ lục”, mà là “tín hiệu bản lề” chứng minh rằng niềm tin kinh doanh đã hoàn toàn hồi phục về mức trước dịch Covid-19. Các chỉ số này là cột mốc đánh dấu giai đoạn điều chỉnh và thay đổi hành chính đầu năm 2025 “đã khép lại”, các yếu tố kìm hãm đà tăng trưởng đang được tháo gỡ.
Doanh nghiệp Việt đủ sức vượt rào?
Thế nhưng, đằng sau mức đỉnh BCI hay PMI là một thực tế khó đảo ngược. Cuộc đua không dành cho những ai còn chần chờ hay chậm chuyển đổi cấu trúc. Đây không phải là những điều chỉnh tạm thời, mà là sự chuyển dịch cấu trúc sâu sắc của thương mại toàn cầu. Giá rẻ hay chi phí thấp không còn là ưu tiên hàng đầu, ông de Jong nhấn mạnh.
Chuông đã điểm!
CBAM đã có hiệu lực từ ngày 1-1-2026. Chỉ những đơn vị đã đăng ký trước ngày 31-3-2026 và được cấp phép mới được quyền nhập khẩu hàng hóa vào EU. Nếu trễ hạn và không có trạng thái “người khai báo được ủy quyền”, hàng hóa có thể bị chặn tại cửa khẩu hoặc doanh nghiệp phải đối mặt với các khoản phạt tiền lớn.
Đến thời điểm hiện nay, các quy định về chống phá rừng EUDR vẫn giữ thời điểm có hiệu lực từ ngày 30-12-2026 với doanh nghiệp lớn, và từ cuối tháng 6-2027 với SME.
Tiến sĩ Jackson Woo, Tổng giám đốc SGS Việt Nam - tổ chức chuyên về đánh giá và cấp giấy chứng nhận - tin rằng các khu vực doanh nghiệp tại Việt Nam vẫn đang “chơi bập bênh” trong việc đáp ứng các đòi hỏi CBAM và EUDR. Trong khi nhà sản xuất Nhật Bản và Đài Loan thích ứng khá tốt nhờ hệ thống quản trị vững mạnh, thì mức độ sẵn sàng chung của thị trường Việt Nam vẫn còn rất hạn chế, nhất là với nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME). Khoảng cách năng lực lộ rõ khi nhiều doanh nghiệp vẫn thiếu kế hoạch ứng phó bài bản hoặc hiểu sai về phạm vi và tiêu chuẩn xác minh.
Tiến sĩ Woo có cùng nhận định với ông de Jong khi nói rằng, thách thức của năm 2026 là kỷ luật thực thi, không còn loay hoay với chuyện nhận thức. Đó chính là lỗ hổng trong quản trị dữ liệu và kỷ luật quy trình - những thứ mà công nghệ không thể lấp đầy nếu thiếu sự phân định trách nhiệm rõ ràng.
Rào cản lớn nhất chính là việc báo cáo phát thải CBAM. Việc chuyển từ giá trị mặc định sang dữ liệu xác minh vào năm 2026 yêu cầu doanh nghiệp phải kiểm soát được cả nguồn phát thải trực tiếp và gián tiếp. Đây không chỉ là vấn đề kỹ thuật mà là lỗ hổng về cấu trúc quản trị dữ liệu và kỷ luật quy trình. Công nghệ chỉ có thể hỗ trợ khi trách nhiệm và quy trình nội bộ đã được định nghĩa rõ ràng.
“Khi có được sự nhất quán vận hành xuất sắc với tinh thần xanh, Việt Nam không chỉ đơn thuần là tham gia, mà sẽ góp phần định hình lại cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu” - thành viên Ban điều hành EuroCham Việt Nam André de Jong.
Lo ngại về chi phí thiết lập hệ thống, nhưng doanh nghiệp có thể trả giá đắt hơn nhiều nếu thiếu dữ liệu. Từ năm 2026 trở đi, nếu nhà nhập khẩu không có dữ liệu xác minh có thể chịu chi phí CBAM cao hơn và ở mức trên 60% vào năm 2034.
“Đầu tư cho dữ liệu chính xác không chỉ là tuân thủ, mà là bài toán sống còn để ngăn chặn những tổn thất tài chính nặng nề trong dài hạn”, ông Woo khẳng định.
Nhưng các quy định CBAM, EUDR cũng là thách thức của các doanh nghiệp EU đang làm ăn tại Việt Nam. Báo cáo BCI quí 4-2025 của EuroCham cũng nói rõ: Chỉ 25% số doanh nghiệp EU đã triển khai các sáng kiến xanh, 37% đang thí điểm các dự án giảm phát thải trong hai năm qua. Các chỉ số của doanh nghiệp Việt thấp hơn nhiều, đặc biệt nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa - SME. Báo cáo thực hành ESG năm 2024 từ VCCI nói rằng gần 90% SME tại Việt Nam chưa công bố bất kỳ thông tin nào về môi trường và 39% thậm chí chưa từng nghe khái niệm ESG.
Ông Woo và ông de Jong cùng chỉ ra ba cái thiếu của doanh nghiệp Việt khi vào thị trường EU: chuyên môn kỹ thuật, vốn và dữ liệu. Trong khi đó, các hãng kiểm toán và tư vấn thay yếu tố “dữ liệu” bằng “chính sách”.
Biến các rào cản khắt khe thành lợi thế cạnh tranh
Minh bạch dữ liệu là “tử huyệt” của doanh nghiệp Việt, giống như xông pha chiến trường mà không trang bị được khiên giáp. Tiến sĩ Woo đề nghị bộ đôi chứng chỉ nhằm giúp doanh nghiệp Việt minh bạch năng lực trước đối tác EU.
Đầu tiên là chứng nhận sản phẩm xác minh hàng hóa đạt chuẩn xanh, sạch hay hữu cơ, giúp hàng thông quan nhanh và tạo niềm tin với người tiêu dùng EU. Có thể xem FSC và PEFC là các chứng chỉ quốc tế uy tín về quản lý rừng bền vững và chuỗi hành trình sản phẩm lâm sản (như gỗ, giấy, bao bì…), đảm bảo nguồn gốc hợp pháp và thân thiện môi trường…
Kế đến là chứng nhận hệ thống như ISO 14001 về quản trị môi trường, ISO 50001 về quản trị năng lượng, ISO 14064 về phát thải nhà kính. Các bộ tiêu chuẩn này giúp chuẩn hóa bộ máy quản trị, giúp kiểm soát dữ liệu phát thải và truy xuất nguồn gốc một cách kỷ luật.
Ông Woo nói rằng chứng chỉ không phải là “phép màu” nhưng là công cụ chiến lược để số hóa sự minh bạch, biến các rào cản khắt khe của EU thành lợi thế cạnh tranh. “Đây là cơ hội để doanh nghiệp gỡ cái mác “giá rẻ” với hàng Việt để tiến lên phân khúc “tin cậy và bền vững…”.
Xanh từ nhà máy
Sẽ là câu chuyện “vẽ rồng mà quên điểm mắt” khi nhắc đến trào lưu xanh mà bỏ quên nét mới của quá trình xanh hóa nền sản xuất Việt Nam - khu công nghiệp (KCN) sinh thái.
Cách trung tâm TPHCM khoảng hơn 30 cây số, Công ty cổ phần Prodezi Long An đang phát triển cụm công nghiệp, đô thị và dịch vụ đồng bộ rộng hơn 500 héc ta tại xã Lương Hòa, Tây Ninh. Cụm này gồm KCN định hướng sinh thái Prodezi khoảng 400 héc ta và khu đô thị LA Home 100 héc ta, với mục tiêu hướng đến trung hòa carbon. Phó tổng giám đốc Trương Khắc Nguyên Minh của Prodezi Long An nói KCN xanh đang là quan tâm của thế hệ nhà đầu tư mới, đặc biệt là các tập đoàn đa quốc gia. “Họ không chỉ tìm kiếm mặt bằng sản xuất, mà quan tâm sâu hơn đến yếu tố bền vững, khả năng kết nối và mức độ linh hoạt của hạ tầng”.
Hai cơ sở của Prodezi Long An khởi công trong năm 2024-2025, tập trung vào hạ tầng xanh, kinh tế tuần hoàn và cộng sinh công nghiệp như chia sẻ năng lượng, nước và xử lý chất thải, nhằm tối ưu chi phí và giảm phát thải. Ông Nguyên Minh nói việc tuân thủ các tiêu chuẩn xanh giúp doanh nghiệp giảm rủi ro, giảm chi phí vận hành và đáp ứng yêu cầu của đối tác quốc tế. Lợi thế xanh giúp thu hút các ngành công nghệ cao như bán dẫn, AI, trung tâm dữ liệu, xe điện… Kế hoạch phát triển 2026-2030 của Prodezi là hoàn thiện hệ sinh thái dịch vụ tại Lương Hòa, nhân rộng mô hình KCN sinh thái. Theo ông Minh, mục tiêu của Prodezi là không mở rộng số lượng, mà nhân rộng mô hình chuẩn.
Hội thảo “Economic Outlook 2026: Doanh nghiệp FDI và Lộ trình đồng hành cùng Việt Nam vươn mình” sẽ diễn ra vào ngày 2-4-2026 tại khách sạn Kim Đô. Quý độc giả đăng ký tham dự, vui lòng quét mã QR

Hoặc liên hệ:
- Cô Phạm Quỳnh Hương (0368 317 355)
- Cô Nguyễn Như Huỳnh (0981 698 697)
Ban Sự kiện - Phát hành, Tạp chí Kinh tế Sài Gòn (Saigon Times Group)
Email: bandoingoai@kinhtesaigon.vn
Theo Cục Đầu tư nước ngoài thuộc Bộ Tài chính, tính đến hết năm 2025, Việt Nam có trên 500 KCN, với tổng diện tích quy hoạch 145.000 héc ta. Tuy vậy, hiện chỉ có 7 KCN sinh thái đang hoạt động ở Ninh Bình, Đà Nẵng, Cần Thơ và Đồng Nai. Chính phủ đặt mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam sẽ có 20% KCN sinh thái, bao gồm mới và chuyển đổi. Các KCN hiện hữu hiện thu hút đến 80% vốn FDI với các ngành sản xuất. Hiện áp lực di dời các cơ sở cũ hay nâng cấp hạ tầng cũ các KCN Đồng Nai và TPHCM mở rộng đang trở nên cấp bách.
Khép lại những tranh luận về rào cản và con số, đại diện EuroCham đưa ra một góc nhìn đầy triển vọng về vị thế mới của quốc gia. Nếu doanh nghiệp Việt Nam có thể nhân rộng hiệu suất xanh và làm chủ được dữ liệu quản trị, Việt Nam sẽ không chỉ dừng lại ở vai trò “công xưởng” gia công.
“Khi có được sự nhất quán vận hành xuất sắc với tinh thần xanh, Việt Nam không chỉ đơn thuần là tham gia, mà sẽ góp phần định hình lại cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu”, ông André de Jong khẳng định. Đó là sự chuyển mình không dựa trên những bước nhảy cóc và đứt đoạn, mà là nền tảng bền vừng và chiến lược kiên định trong nhiều thập niên.






