Thứ Sáu, 8/05/2026
24.5 C
Ho Chi Minh City
Html code here! Replace this with any non empty raw html code and that's it.

Giảm trừ y tế và giáo dục – Phần 1: Làm sao để trúng đích hơn?

Thái Mạnh Cường

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

(KTSG) - Trong bối cảnh Bộ Tài chính đang đề xuất các mức giảm trừ chi phí y tế và giáo dục cụ thể, câu chuyện về “giảm trừ” ở mức nào lại trở nên nóng hổi hơn bao giờ hết. Tuy nhiên, trong bối cảnh ngân sách còn eo hẹp, một vấn đề cũng cần bàn tới là thiết kế giảm trừ ra sao cho đạt được hiệu quả cao nhất.

Giảm trừ chi phí thuế hiệu quả và công bằng trong giáo dục sẽ không chỉ giúp người dân nhẹ gánh lo toan, mà còn củng cố niềm tin vào vai trò của chính sách công. Trong ảnh: Cổ động thí sinh trong kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2025. Ảnh: N.K

Các chuyên gia kinh tế gọi những khoản ưu đãi thuế là “chi tiêu thuế” (tax expenditure) - một dạng ngân sách ẩn mà nhà nước chấp nhận “thất thu” để đạt được các mục tiêu xã hội. Trong đó, “giảm trừ thu nhập” (tax allowance) là một hình thức phổ biến, hoạt động bằng cách trừ một khoản tiền trực tiếp vào tổng thu nhập trước khi tính thuế.

Mức độ lũy tiến của giảm trừ thu nhập

Một hệ thống thuế được gọi là lũy tiến khi người thu nhập cao chịu tỷ lệ thuế thực tế cao hơn người thu nhập thấp; ngược lại gọi là lũy thoái. OECD thường đo lường tính lũy tiến cấu trúc (structural progressivity) dựa trên tính toán từ thiết kế kỹ thuật (biểu thuế, các khoản miễn/giảm...) thay vì đo lường tác động thực tế. Theo đó, hệ thống có tính lũy tiến khi thuế suất bình quân tăng nhanh hơn thu nhập.

Theo OECD(1), tại một số quốc gia có giảm trừ thu nhập không giới hạn theo tỷ lệ thu nhập, việc bỏ chúng đi đã giúp tăng tính lũy tiến của chế độ thuế thu nhập cá nhân (TNCN). Ngược lại, tại quốc gia mà giảm trừ giảm dần theo thu nhập thì tính lũy tiến lại giảm khi loại bỏ chúng. OECD cũng cho rằng, nhìn chung, các khoản “giảm thuế” (tax credit) đóng góp nhiều hơn vào tính lũy tiến so với giảm trừ thu nhập (giảm thuế là số tiền được trừ trực tiếp vào số thuế phải nộp, thay vì trừ vào thu nhập). Các nghiên cứu tại Mỹ(2) cho biết các khoản giảm trừ về y tế vẫn giúp tăng nhẹ tính lũy tiến của thuế TNCN nhưng lợi ích về mặt tuyệt đối phần lớn vẫn thuộc về nhóm gia đình thu nhập cao.

Một hệ thống giảm trừ thuế hiệu quả và công bằng sẽ không chỉ giúp người dân nhẹ gánh lo toan, mà còn củng cố niềm tin vào vai trò của chính sách công. Đã đến lúc chúng ta nhìn nhận các khoản giảm trừ không chỉ là con số trên tờ khai, mà là một công cụ kiến tạo sự phát triển bao trùm cho toàn xã hội.

Khi áp dụng biểu thuế nhiều bậc với thuế suất tăng dần, giá trị thực tế của một khoản giảm trừ sẽ phụ thuộc vào mức thuế suất biên của người nộp. Ví dụ, với cùng một khoản giảm trừ 1 triệu đồng, một người đã ở bậc thuế 35% sẽ tiết kiệm được 350.000 đồng tiền thuế, trong khi người chỉ ở bậc 5% chỉ tiết kiệm được 50.000 đồng. Do đó, người “giàu” vô tình lại nhận được mức hỗ trợ lớn hơn từ ngân sách so với người “nghèo”, khiến cho giảm trừ thu nhập có thể mang tính lũy thoái.

Ngược lại, trong hệ thống thuế suất phẳng (flat tax) - nơi mọi người đóng cùng một tỷ lệ thuế - các khoản giảm trừ giảm dần theo thu nhập (means-tested) lại là nguồn tạo ra tính lũy tiến. Tại đây, việc miễn thuế cho một ngưỡng thu nhập tối thiểu giúp giảm đáng kể gánh nặng cho nhóm thu nhập thấp, khiến tỷ lệ thuế thực tế của họ thấp hơn nhóm thu nhập cao.

Những khoản giảm trừ thu nhập chuyên biệt

Ngoài mức giảm trừ gia cảnh cơ bản, các quốc gia thường thiết kế các khoản giảm trừ thu nhập chuyên biệt cho y tế, giáo dục hay nhà ở. Hai nhóm mục tiêu chính được hướng tới là (i) khuyến khích người dân thực hiện các hành vi có lợi cho xã hội (như giáo dục, y tế) và (ii) giảm bớt gánh nặng thuế cho những người gặp phải rủi ro ngoài ý muốn (như bệnh hiểm nghèo, thiên tai).

Một số quốc gia còn thiết kế ngưỡng chi phí tối thiểu để được tính giảm trừ, thường gặp đối với chi phí y tế. Việc chặn dưới thường được lý giải là để tập trung hỗ trợ cho các chi phí lớn bất thường (loại bỏ các khoản nhỏ vốn đã tính trong giảm trừ cơ bản) và giảm chi phí quản lý thuế liên quan. Nhằm tăng tính công bằng, tại một số nước, ngưỡng “sàn” này còn được xác định theo tỷ lệ trên thu nhập, ví dụ như 5% ở Ý, 3% ở Hàn Quốc và 7,5% ở Mỹ.

Nghiên cứu tại EU(3) cho thấy giảm trừ liên quan đến gia đình và trẻ em thường có tác động tích cực, giúp giảm bất bình đẳng. Điều này có thể do chúng hướng tới các hộ gia đình trẻ có nhiều con, thường thuộc nửa dưới của phân bố thu nhập. Ngược lại, các khoản giảm trừ cho chi phí giáo dục cao cấp(4) hay lãi vay mua nhà lại thường mang tính lũy thoái. Nhóm thu nhập cao tận dụng các ưu đãi này tốt hơn vì họ có thể chi trả cho các dịch vụ đắt tiền mà người nghèo không thể tiếp cận. Trong khi đó, nhóm thu nhập thấp thậm chí không phát sinh thuế để được giảm trừ.

Một vấn đề khác là hiệu ứng “deadweight” (tổn thất vô ích) với việc người dân vẫn sẽ thực hiện các hoạt động được ưu đãi ngay cả khi không có ưu đãi đó. Chẳng hạn, những gia đình giàu có vẫn sẽ cho con đi học trường quốc tế dù có được giảm trừ thuế hay không, dẫn đến việc ngân sách bị lãng phí cho những đối tượng không thực sự cần trợ giúp. Theo Trung tâm Phát triển đào tạo nghề châu Âu (CEDEFOP)(5), ưu đãi thuế không đóng vai trò đáng kể trong khuyến khích giáo dục/đào tạo và lại còn trợ cấp cho các hoạt động vốn dĩ vẫn diễn ra.

Với giảm trừ về giáo dục, một lưu ý cũng được chỉ ra là không thể tạo ra cơ hội bình đẳng cho mọi nhóm đối tượng. Lợi ích chủ yếu rơi vào nhóm vốn đã có trình độ học vấn và thu nhập cao. Tuy nhiên, CEDEFOP dẫn một nghiên cứu cho biết nếu ưu đãi nhắm đích cụ thể thì lại dễ làm phát sinh các thủ tục hành chính rườm rà và hiệu ứng thay thế không hiệu quả giữa các nhóm đối tượng. Các thủ tục đơn giản hóa sẽ có tác động tích cực đến việc áp dụng ưu đãi. Bên cạnh đó, do không được biết đến rộng rãi, ưu đãi thuế về giáo dục chỉ được áp dụng bởi một tỷ lệ nhỏ những người có phát sinh.

(1) OECD (2025), “Taxing Wages 2025: Decomposition of Personal Income Taxes and the Role of Tax Reliefs”, OECD Publishing, Paris, https://doi.org/10.1787/b3a95829-en (nguồn trích dẫn mặc định cho OECD, trừ khi có ghi chú khác)
(2) Lurie, I. and Minicozzi, A. (2010), “Understanding the Increasingly Popular Itemized Deduction for Medical Expenses”, Medical Care Research and Review, 67, pp. 707 - 721.
(3) EC (2024), “Tax Expenditures in the EU: Recent Trends and New Policy Challenges”, https://economy-finance.ec.europa.eu/ecfin-publications_en

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

Tin liên quan

Có thể bạn quan tâm

Tin mới