Chủ Nhật, 26/04/2026
24.5 C
Ho Chi Minh City
Html code here! Replace this with any non empty raw html code and that's it.

Kế hoạch đầu tư công trung hạn: Tính khả thi và các cân đối vĩ mô

PGS.TS. Phạm Thế Anh (*)

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

A.I

(KTSG) - Lý thuyết kinh tế, cũng như kinh nghiệm của các nước Đông Á và bài học của Việt Nam giai đoạn 2006-2012, cho thấy các dự án đầu tư khổng lồ vào hệ thống hạ tầng và bất động sản sẽ là không bền vững nếu không duy trì được một nền sản xuất đủ mạnh hướng ra xuất khẩu để thu về ngoại tệ. Việc thiết kế và triển khai chính sách cần lưu ý những định hướng nào?

Việt Nam cần kiểm soát quy mô và nâng cao chất lượng đầu tư công, thay vì theo đuổi mục tiêu mở rộng đầu tư bằng mọi giá. Ảnh: N.K

Từ cách hạch toán thu nhập quốc gia theo phương pháp chi tiêu, nếu sắp xếp lại một chút, chúng ta sẽ thu được một trong những mối quan hệ quan trọng nhất giữa các khu vực trong nền kinh tế, đó là:

Đầu tư (I) = Tiết kiệm quốc gia (S) + Thâm hụt thương mại (-NX)

Mặc dù không nhất thiết hàm ý quan hệ nhân quả, nhưng đồng nhất thức này chỉ ra mối quan hệ ràng buộc giữa đầu tư, tiết kiệm quốc gia, và cán cân thương mại. Ý nghĩa cốt lõi của mối quan hệ này là: nếu một quốc gia đầu tư nhiều hơn tiết kiệm, phần thiếu hụt về vốn phải được tài trợ bằng vay nợ hoặc đầu tư tài chính từ nước ngoài, và phần này tương ứng với thâm hụt thương mại.

Tính quan trọng của đồng nhất thức này nằm ở chỗ nó cho thấy cán cân thương mại không chỉ phụ thuộc vào xuất khẩu hay nhập khẩu riêng lẻ, mà là kết quả của các quyết định vĩ mô sâu hơn như hành vi tiết kiệm/đầu tư của khu vực tư nhân và chính sách tài khóa của chính phủ.

Bài học từ giai đoạn 2006-2012

Diễn biến kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn 2006-2012 là một minh họa điển hình cho việc các bất ổn kinh tế vĩ mô phát sinh như thế nào khi các ràng buộc này bị phá vỡ. Sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), cùng với các gói kích thích kinh tế lớn (đặc biệt sau khủng hoảng toàn cầu 2008-2009), đầu tư tăng rất nhanh. Tuy nhiên, do dòng vốn không chảy vào khu vực sản xuất hàng xuất khẩu, nên nền kinh tế rơi vào tình trạng nhập siêu kéo dài (hình 1), tiền đồng mất giá mạnh.

Các chương trình đầu tư hạ tầng quy mô lớn của các nước thành công ở khu vực Đông Á đều được “chống lưng” bởi năng lực tạo thặng dư từ khu vực sản xuất - xuất khẩu. Điều này giúp các nước này duy trì được cân bằng bên ngoài, hạn chế áp lực nhập siêu, đồng thời tránh được những bất ổn như lạm phát cao hay khủng hoảng cán cân thanh toán.

Cùng lúc đó, do tiết kiệm trong nước không đủ đáp ứng nhu cầu đầu tư, cung tiền phải tăng trưởng cao để bù đắp. Hậu quả là, lạm phát duy trì ở mức hai con số trong nhiều năm (hình 2), nợ công tiến gần ngưỡng cho phép, nội tệ mất giá, nhiều doanh nghiệp phá sản và hệ thống ngân hàng phải đối mặt với tỷ lệ nợ xấu gia tăng.

Việt Nam đã phải mất gần một thập niên sau đó khắc phục những hậu quả của sự mở rộng đầu tư thái quá và tăng trưởng cung tiền cao trong giai đoạn này.

Kế hoạch đầu tư trung hạn 2026-2030 và rủi ro đối với các cân đối vĩ mô

Theo kế hoạch đầu tư giai đoạn 2026-2030, tổng đầu tư toàn xã hội của Việt Nam sẽ vào khoảng 38,5 triệu tỉ đồng cho cả năm năm, tương ứng với mục tiêu duy trì tỷ lệ đầu tư hàng năm khoảng 39-40% GDP (một mức rất cao nếu so với con số khoảng 30% GDP hiện nay), nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế nhanh trong giai đoạn tới. Trong đó, đầu tư công dự kiến khoảng 8,22 triệu tỉ đồng, tương đương khoảng 20-25% tổng đầu tư, phần còn lại đến từ khu vực tư nhân và vốn đầu tư nước ngoài.

Để thực hiện kế hoạch này, Việt Nam sẽ buộc phải chấp nhận thâm hụt ngân sách lớn hơn, khoảng 5% GDP so với mức 3% GDP mỗi năm hiện nay. Các chương trình đầu tư công vào cơ sở hạ tầng quy mô lớn (đường sắt tốc độ cao, sân bay, năng lượng...) đòi hỏi một lượng lớn máy móc, thiết bị công nghệ cao và nguyên vật liệu chuyên dụng mà sản xuất trong nước chưa đáp ứng được.

Điều này không chỉ gây thâm hụt thương mại lớn trong ngắn hạn, mà còn cả trong dài hạn nếu các dự án này sau đó lại chỉ kích hoạt được đầu tư tư nhân vào lĩnh vực bất động sản mà không tạo ra hàng hóa xuất khẩu.

Mức chi tiêu công 8,22 triệu tỉ đồng, tương đương với 320 tỉ đô la Mỹ, khi tạo ra thâm hụt thương mại khổng lồ, cũng sẽ vượt xa khả năng ổn định tỷ giá bởi dự trữ ngoại hối của Việt Nam hiện nay thấp.

Bên cạnh đầu tư công, Việt Nam cũng đang khuyến khích các tập đoàn tư nhân cùng đầu tư vào các chương trình hạ tầng lớn thông qua hình thức hợp tác công tư: đổi đất lấy hạ tầng (BT). Chiến lược này có thể giúp các dự án hạ tầng được hoàn thành một cách nhanh hơn, nhưng sau đó sẽ khiến cán cân thương mại càng thâm hụt khi các quỹ đất này được phát triển thành các dự án bất động sản khổng lồ. Bởi lẽ, các dự án này tiêu tốn ngoại tệ mà không tạo ra các giá trị xuất khẩu.

Trong khoảng một thập niên gần đây, Việt Nam duy trì được thặng dư thương mại. Nhưng đáng tiếc là phần lớn (75-80%) giá trị xuất khẩu này lại thuộc về các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Việt Nam chỉ thu được một phần rất nhỏ từ thuế, tiền cho thuê đất và lao động giá rẻ.

Toàn bộ phần thặng dư luôn thuộc về khu vực FDI trong khi khu vực trong nước luôn bị thâm hụt. Điều này khiến cho tiết kiệm của khu vực trong nước không đủ để đáp ứng nhu cầu đầu tư trước đây, chứ chưa nói gì đến các chương trình đầu tư khổng lồ trong thời gian tới.

Việc thiếu hụt tiết kiệm so với nhu cầu đầu tư sẽ tiếp tục dồn gánh nặng lên chính sách tiền tệ. Cung tiền và tín dụng sẽ tăng trưởng nhanh hơn. Thị trường vốn tiếp tục phụ thuộc vào hệ thống ngân hàng. Sức ép lạm phát luôn thường trực. Khi dự trữ ngoại hối sụt giảm nhanh, vòng xoáy phá giá tiền tệ, lạm phát và nợ xấu có nguy cơ lặp lại như giai đoạn 2006-2012.

Tăng trưởng cung tiền và tín dụng cao có thể đáp ứng được nhu cầu trong ngắn hạn, nhưng nó sẽ triệt tiêu đầu tư trong dài hạn khi tạo ra các bất ổn kinh tế vĩ mô về lạm phát, tỷ giá, nợ xấu và lãi suất. Tiết kiệm của người dân sẽ trú ẩn vào các loại tài sản như vàng, ngoại tệ, bất động sản thay vì quay trở lại sản xuất. Cán cân tiết kiệm - đầu tư càng trở nên mất cân đối.

Kinh nghiệm của các nước Đông Á

Kinh nghiệm của các nền kinh tế Đông Á trong giai đoạn “tăng trưởng thần kỳ” cho thấy một mô hình khá nhất quán: nhà nước chủ động định hướng và hỗ trợ các tập đoàn/doanh nghiệp tham gia vào sản xuất hàng hóa có khả năng xuất khẩu quy mô lớn.

Tại Nhật Bản là những cái tên như Sony, Toyota, Honda, Mitsubishi; tại Hàn Quốc là Samsung, Hyundai; Đài Loan có TSMC; Singapore dựa vào lợi thế địa lý để xuất khẩu công nghệ và dịch vụ chất lượng cao. Điểm chung ở các quốc gia này là tạo thặng dư thương mại bền vững để từ đó có nguồn lực đầu tư mạnh vào cơ sở hạ tầng mà không phụ thuộc quá mức vào vay nợ nước ngoài hay gây mất cân đối vĩ mô.

Trung Quốc cũng đi theo một quỹ đạo tương tự. Trước khi đẩy mạnh các chương trình đầu tư hạ tầng khổng lồ, nước này đã xây dựng thành công một hệ thống sản xuất công nghiệp hướng ra xuất khẩu, đặc biệt trong các ngành hàng tiêu dùng và chế biến. Thặng dư thương mại đầu những năm 2000 còn ở mức khiêm tốn (chỉ vài chục tỉ đô la Mỹ), sau đó tăng mạnh lên khoảng 200-300 tỉ đô la Mỹ vào giai đoạn 2005-2008, rồi tiếp tục mở rộng trong thập niên 2010.

Gần đây, đặc biệt từ sau năm 2020, thặng dư thương mại của Trung Quốc đã đạt quy mô rất lớn, dao động khoảng 800-1.000 tỉ đô la Mỹ mỗi năm. Đây chính là nguồn lực để Trung Quốc hoàn thành hệ thống hạ tầng hiện đại ngày nay.

Tóm lại, các chương trình đầu tư hạ tầng quy mô lớn của các nước thành công ở khu vực Đông Á đều được “chống lưng” bởi năng lực tạo thặng dư từ khu vực sản xuất - xuất khẩu. Điều này giúp các nước này duy trì được cân bằng bên ngoài, hạn chế áp lực nhập siêu, đồng thời tránh được những bất ổn như lạm phát cao hay khủng hoảng cán cân thanh toán.

Khuyến nghị cho Việt Nam

Lý thuyết kinh tế, cũng như kinh nghiệm của các nước Đông Á và bài học của Việt Nam giai đoạn 2006-2012, cho thấy các dự án đầu tư khổng lồ vào hệ thống hạ tầng và bất động sản sẽ là không bền vững nếu không duy trì được một nền sản xuất đủ mạnh hướng ra xuất khẩu để thu về ngoại tệ. Do vậy, việc thiết kế và triển khai chính sách cần lưu ý những định hướng sau:

Trước hết, Việt Nam cần kiểm soát quy mô và nâng cao chất lượng đầu tư công, thay vì theo đuổi mục tiêu mở rộng đầu tư bằng mọi giá. Các dự án hạ tầng chỉ nên được ưu tiên khi có khả năng tạo hiệu ứng lan tỏa rõ ràng sang khu vực sản xuất, đặc biệt là các ngành có khả năng xuất khẩu. Tránh tình trạng đầu tư hạ tầng trở thành “bệ đỡ” cho các chu kỳ đầu cơ bất động sản, vốn không tạo ra nguồn thu ngoại tệ tương ứng.

Thứ hai, Việt Nam cần chuyển trọng tâm chính sách sang phát triển năng lực sản xuất hàng xuất khẩu của khu vực trong nước. Điều này đòi hỏi lựa chọn và hỗ trợ có mục tiêu các doanh nghiệp sản xuất nội địa có tiềm năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, thông qua góp vốn hoặc tín dụng dài hạn, chuyển giao công nghệ và phát triển công nghiệp hỗ trợ. Mục tiêu là từng bước cải thiện cán cân tiết kiệm - đầu tư bằng cách gia tăng nguồn thu ngoại tệ bền vững.

Thứ ba, Chính phủ cần thực hành tiết kiệm triệt để và phát triển thị trường vốn nhằm giảm phụ thuộc vào hệ thống ngân hàng. Một cấu trúc tài chính cân bằng hơn (giữa ngân hàng và thị trường vốn) sẽ giúp tài trợ cho đầu tư dài hạn mà không gây áp lực quá lớn lên cung tiền và tín dụng, từ đó hạn chế rủi ro lạm phát và bất ổn tài chính.

Thứ tư, chính sách vĩ mô cần được điều hành theo hướng thận trọng và nhất quán, trong đó chính sách tiền tệ phải giữ vai trò neo giữ sự ổn định. Tỷ giá nên được điều hành linh hoạt, vừa để hấp thụ các cú sốc bên ngoài, vừa đóng vai trò tín hiệu cảnh báo sớm đối với các mất cân đối vĩ mô.

Cuối cùng, việc triển khai các chương trình đầu tư quy mô lớn cần gắn với khả năng cân đối ngoại tệ của nền kinh tế, bao gồm dự trữ ngoại hối và triển vọng cán cân thương mại. Nếu không có nguồn thu ngoại tệ đủ mạnh đi kèm, việc mở rộng đầu tư có thể nhanh chóng chuyển hóa thành áp lực lên tỷ giá, lạm phát và bất ổn kinh tế vĩ mô.

(*) Đại học Kinh tế Quốc dân (NEU)

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

Tin liên quan

Có thể bạn quan tâm

Tin mới