Ký gói thầu hơn 1,3 tỉ đô la cho nhiệt điện Vĩnh Tân 4
Văn Nam
![]() |
Lễ ký kết hợp đồng EPC nhiệt điện Vĩnh Tân 4 chiều nay (23-12) - Ảnh: EVN.. |
(TBKTSG Online) - Chiều 23-12, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đã ký hợp đồng gói thầu số 4 - nhà máy chính của dự án nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 4, theo hình thức EPC (thiết kế - cung cấp vật tư thiết bị - xây dựng lắp đặt) với tổ hợp nhà thầu gồm Tập đoàn Công nghiệp nặng Doosan (Hàn Quốc), Tập đoàn Mitsubishi (Nhật Bản), Công ty cổ phần Tập đoàn Thái Bình Dương và Công ty cổ phần Tư vấn xây dựng điện 2 (PECC 2).
Tổng giá trị hợp đồng EPC được ký kết là 1,36 tỉ đô la Mỹ (tổng vốn đầu tư của dự án nhiệt điện Vĩnh Tân 4 là 36.728 tỉ đồng), trong đó 85% là vốn vay tín dụng của Ngân hàng KEXIM, Ngân hàng KSURE (Hàn Quốc) và Ngân hàng JBIC (Nhật Bản), 15% còn lại là vốn đối ứng của chủ đầu tư.
Dự án Nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 4 do Tổng công ty Phát điện 3 (EVN GENCO 3) – một đơn vị thuộc EVN làm chủ đầu tư có quy mô công suất khoảng 1.200 MW gồm 2 tổ máy nằm trong Trung tâm điện lực Vĩnh Tân bao gồm 4 nhà máy nhiệt điện với tổng quy mô công suất lên đến 5.600 MW, tại xã Vĩnh Tân, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận, cách thành phố Phan Thiết 100 km, cách thành phố Hồ Chí Minh 250 km về phía Nam.
Nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 4 hàng năm cung cấp cho hệ thống điện khoảng 7,2 tỉ kWh. Nhà máy sử dụng nhiên liệu than nhập khẩu, được xây dựng và đưa vào vận hành giai đoạn 2017 – 2018.
Trung tâm nhiệt điện Vĩnh Tân là trung tâm nhiệt điện than lớn nhất cả nước, khi xây dựng xong sẽ đáp ứng điện năng trực tiếp cho khu vực Nam Trung bộ và các tỉnh thành phía Nam.
Theo kế hoạch, sau khi hợp đồng EPC được ký kết, nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 4 sẽ dự kiến khởi công vào quí 1-2014. Tổ máy đầu tiên của nhà máy sẽ được đưa vào vận hành sau 46 tháng lắp đặt, xây dựng (dự kiến cuối quí 4-2017). Tổ máy thứ 2 sau tổ máy thứ nhất khoảng 6 tháng (dự kiến cuối quí 3-2018).
Khi đi vào hoạt động, nhà máy sẽ tăng cường năng lực cung ứng điện phục vụ phát triển kinh tế - xã hội khu vực Nam Trung bộ, qua đó góp phần giảm sự phụ thuộc của hệ thống điện vào nguồn thủy điện, đặc biệt vào mùa khô và các năm cạn kiệt, giảm sản lượng điện phải truyền tải từ Bắc vào Nam, giảm tổn thất điện năng, tăng tính an toàn, ổn định, kinh tế cho vận hành hệ thống điện.