(KTSG Online) – Việc đón nhận “cú hích” từ Nghị quyết 79 và nhóm cổ phiếu ngân hàng những ngày đầu năm 2026 là tín hiệu tích cực với thị trường chứng khoán Việt Nam. Tuy nhiên để duy trì đà tăng trưởng trong dài hạn, rất cần bổ sung những yếu tố mang tính cơ bản và bền vững.
- Vốn ngoại quay lại, chứng khoán ASEAN hứa hẹn tỏa sáng trong năm 2026
- Chứng khoán đầu năm 2026 thử thách vùng 1.800 điểm
Phía sau sự “thức giấc” của cổ phiếu ngân hàng
Tám phiên giao dịch gần nhất, nhóm cổ phiếu ngành ngân hàng dẫn dắt các chỉ số đại diện thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam và sàn HOSE đạt các mức điểm mới. Kết phiên giao dịch ngày 13-1, VnIndex đạt mức 1.902,93 điểm - mức cao nhất trong lịch sử, nhờ ba cổ phiếu, gồm: VCB của Vietcombank, CTG của Vietinbank, BID của BIDV duy trì đà tăng trưởng, đi kèm xu hướng gia tăng về giá trị giao dịch.

Xu hướng tăng trưởng nhanh của TTCK và nhóm cổ phiếu thuộc các ngân hàng thương mại có vốn Nhà nước diễn ra sau khi Nghị quyết số 79-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước được ban hành, đánh dấu sự thay đổi về trong tư duy quản lý của Đảng với khu vực kinh tế Nhà nước trong giai đoạn mới.
Theo đó, Nghị quyết đặt ra loạt mục tiêu, như: 50 doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á; 1-3 doanh nghiệp vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới đến năm 2030. Với các tổ chức tín dụng Nhà nước, phấn đấu có ít nhất 3 ngân hàng thương mại có vốn Nhà nước thuộc nhóm 100 ngân hàng lớn nhất khu vực châu Á về tổng tài sản; phát triển 4 ngân hàng thương mại Nhà nước đi đầu, tiên phong về công nghệ...
Đặc biệt, Nghị quyết 79 đề ra các cơ chế tài chính mạnh mẽ để tăng nội lực cho DNNN, gồm: cho phép sử dụng toàn bộ nguồn thu từ cổ phần hóa và thoái vốn để tăng vốn điều lệ cho các doanh nghiệp then chốt; tăng tỉ lệ lợi nhuận sau thuế để lại doanh nghiệp để phục vụ tái đầu tư. Đồng thời, rà soát các tài sản hết khấu hao nhưng còn giá trị sử dụng, giúp làm đẹp bảng cân đối kế toán và phản ánh đúng giá trị thực của doanh nghiệp.
Điều này tạo không ít kỳ vọng cho nhà đầu tư và thành viên thị trường, như Công ty chứng khoán Yuanta Việt Nam, về cơ chế mới, giúp BIDV và VietinBank được phép giữ lại lợi nhuận hoặc nhận nguồn vốn tái đầu tư từ các thương vụ thoái vốn Nhà nước. Điều này là nền tảng giúp các ngân hàng cải thiện vốn cấp 1, qua đó, mở rộng quy mô tín dụng phù hợp với vị thế ngân hàng trụ cột của hệ thống.
Trước đó, thông điệp “các ngân hàng thương mại Nhà nước ngày càng thụt lùi trong cuộc đua tăng vốn”, dẫn tới nguy cơ không đạt an toàn vốn, hạn chế tăng trưởng tín dụng, sụt giảm lợi nhuận… từng được nhắc tới tại nhiều sự kiện.
Tại một hội nghị trực tuyến toàn quốc với doanh nghiệp nhà nước (DNNN) vào năm 2022, ông Phạm Quang Dũng – khi đó là Chủ tịch HĐQT Vietcombank, từng đề nghị Chính phủ cho phép các ngân hàng thương mại Nhà nước được sử dụng toàn bộ lợi nhuận sau thuế và trích lập các quỹ, để tăng vốn điều lệ. Bên cạnh đó, nới “room ngoại” lên mức 35%, thay vì mức 30%, nhằm hỗ trợ các ngân hàng bán vốn cho nước ngoài để tăng vốn.
Tương tự, tại Tại hội nghị Thường trực Chính phủ với DNNN vào tháng 2-2025, ông Phan Đức Tú, Chủ tịch HĐQT BIDV, cũng đề nghị Quốc hội và Chính phủ có chủ trương cho các ngân hàng được giữ lại lợi nhuận để lại để tăng vốn điều lệ, tương tự quy định tại Nghị quyết 43 của Quốc hội về chương trình phục hồi và phát triển kinh tế giai đoạn 2021-2023, trong bối cảnh vừa phải “thúc” tăng trưởng tín dụng cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế, vừa phải đáp ứng các tiêu chuẩn, yêu cầu theo thông lệ quốc tế.
Còn theo các chuyên gia của Yuanta Việt Nam, việc phải chi trả cổ tức tiền mặt cho ngân sách Nhà nước đã hạn chế khả năng tích lũy vốn nội tại, ảnh hưởng trực tiếp đến dư địa mở rộng tín dụng của các ngân hàng thương mại có vốn Nhà nước.
Thị trường chứng khoán cần động lực tăng trưởng bền vững
Việc đón nhận “cú hích” từ Nghị quyết 79 những ngày đầu năm 2026 là tín hiệu tích cực với TTCK Việt Nam, nhưng để duy trì đà tăng trưởng trong dài hạn, thì thị trường cần thêm nhiều yếu tố khác.

Bà Nguyễn Thị Thu Hiền, Tổng giám đốc, Công ty chứng khoán kỹ thương (TCBS), cho rằng điều kiện tiên quyết để thị trường phát triển bền vững là phải có những doanh nghiệp niêm yết chất lượng.
“Ngày càng có nhiều doanh nghiệp tốt lên sàn, trong khi các doanh nghiệp hiện hữu cũng không ngừng cải thiện năng lực quản trị và kiểm soát rủi ro. Với dự báo tốc độ tăng trưởng lợi nhuận doanh nghiệp niêm yết đạt 15–20%, tôi cho rằng đây là mức kỳ vọng rất tích cực. Nếu P/E hiện tại của thị trường quanh mức 16 lần, thì với mức tăng trưởng lợi nhuận kể trên, định giá tương lai sẽ giảm về khoảng 13 lần – một mức khá hấp dẫn”, bà Hiền nói tại hội thảo “Động lực tăng trưởng kinh tế hai chữ số và cơ hội đầu tư năm 2026” vào ngày 13-1.
Bên cạnh chất lượng doanh nghiệp niêm yết, một vấn đề cần sớm giải quyết là khơi khơi thông dòng vốn trong nước. Thực tế, tại các thị trường phát triển như Malaysia và Thái Lan cho thấy, quy mô đầu tư và tài sản tài chính của người dân thường tăng đột biến, khi GDP bình quân đầu người đạt ngưỡng 6.000 đô la Mỹ. Trong bối cảnh Việt Nam tiến nhanh tới ngưỡng này, bà Hiền cho rằng thị trường phải phát triển thêm nhiều công cụ tài chính để hấp thụ và dẫn dắt dòng vốn trong dân.
“Thị trường tài chính Việt Nam sẽ đón nhận thêm nhiều sản phẩm đầu tư mới trong giai đoạn 2026–2030, điển hình là các tài sản số hóa. Trên thế giới, xu hướng chia nhỏ tài sản (token hóa) đã hình thành rõ nét, giúp mở rộng khả năng tiếp cận cho nhà đầu tư cá nhân với các tài sản giá trị lớn. Khi những tài sản như vàng chuyển từ dạng vật chất sang chứng chỉ hoặc số hóa, rào cản về quy mô vốn và thanh khoản sẽ giảm đi đáng kể”, bà Hiền lưu ý.
Từ góc độ vĩ mô, PGS. TS Trần Đình Thiên lưu ý tới yếu tố thực thi chính sách. Theo đó, Đảng và Chính phủ đang áp dụng cách tiếp cận chính sách theo bộ, khối – như "bộ tứ”, hay "bộ bát" Nghị quyết, thay vì từng Nghị quyết riêng biệt, độc lập, đơn độc và không đồng bộ mục tiêu. Cách tiếp cận này không chỉ giải quyết từng điểm riêng lẻ mà thay đổi toàn bộ cục diện, giúp các chính sách nhanh đi vào cuộc sống và hình thành những động lực tăng trưởng mới.
Tuy nhiên, thách thức lớn nhất vẫn nằm ở năng lực thực thi. “Nếu triển khai hiệu quả tinh thần các Nghị quyết, Việt Nam có thể đạt được tăng trưởng không chỉ về quy mô mà còn về chất lượng và hiệu quả sử dụng nguồn lực”, ông Thiên nhấn mạnh.






