Quản lý OTT và tạo lập cạnh tranh
ThS. Phạm Hoài Huấn (*)
![]() |
| Bằng việc tạo hành lang pháp lý cho sự vận hành của dịch vụ OTT, nền tảng cho một thị trường viễn thông cạnh tranh được tạo lập. Sức ép để các “đại gia” di động của Việt Nam phải đa dạng hóa sản phẩm, cải thiện chất lượng dịch vụ được hình thành. |
(TBKTSG) - Ngày 28-10-2014, Bộ Thông tin và Truyền thông công bố dự thảo thông tư quản lý đối với dịch vụ OTT (over the top - các phần mềm nhắn tin, gọi điện thoại, chat trên nền tảng Internet) để lấy ý kiến công chúng (gọi tắt là dự thảo). Dự thảo này đã bảo đảm tính cạnh tranh trong dịch vụ viễn thông chưa?
Lệ thuộc làm sao cạnh tranh?
Khi số lượng người sử dụng điện thoại thông minh tại Việt Nam ngày càng tăng, trong đó những người trẻ tuổi chiếm tỷ trọng lớn, dễ hiểu số lượng các ứng dụng OTT cũng phát triển một cách mạnh mẽ. Trong thời gian qua, đã không ít lần, các nhà mạng Việt Nam như Viettel, MobiFone, do doanh thu bị suy giảm, đã đánh tiếng về việc cấm các dịch vụ OTT tại Việt Nam.
Như vậy, các dịch vụ OTT đang cạnh tranh trực tiếp với thị trường điện thoại di động của Việt Nam. Do đó, nhìn từ góc độ cạnh tranh, quản lý nhà nước đối với OTT là một hoạt động cần thiết nhằm bảo vệ/thiết lập trật tự cạnh tranh trên thị trường. Ngoài ra, trong bối cảnh quyền lợi của mình bị ảnh hưởng một cách nghiêm trọng bởi các dịch vụ OTT, chắc hẳn các doanh nghiệp viễn thông sẽ có những phản ứng mang tính tự vệ. Do đó, nếu không có sự can thiệp từ Nhà nước thông qua các chính sách quản lý, việc đường truyền Internet sử dụng các dịch vụ OTT không thông suốt là điều có thể xảy ra, có thể ảnh hưởng đến người tiêu dùng.
Điều kiện để tạo lập một môi trường cạnh tranh, nhìn từ lý thuyết cạnh tranh, là các doanh nghiệp phải độc lập với nhau. Nhằm bảo đảm các dịch vụ OTT hoạt động dưới sự quản lý của Nhà nước, đồng thời tạo lập một môi trường cạnh tranh cho thị trường viễn thông tại Việt Nam, Bộ Thông tin và Truyền thông cần cân nhắc các khía cạnh độc lập giữa các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ.
Nội dung đáng chú ý nhất của dự thảo là điều kiện cung cấp dịch vụ thoại, nhắn tin trên nền Internet, trong đó quy định bắt buộc phải hợp tác với nhà mạng tại Việt Nam là điều kiện cần cho việc cung cấp dịch vụ. Như vậy Bộ Thông tin và Truyền thông đã đưa các nhà cung cấp dịch vụ (NCCDV) OTT vào thế phụ thuộc vào các nhà mạng Việt Nam, điều này có thể làm nảy sinh khuynh hướng các NCCDV bị bắt chẹt hoặc khuynh hướng thỏa hiệp giữa nhà mạng và NCCDV. Cho dù là khuynh hướng nào, đều không mang lại hệ quả tích cực cho thị trường và ảnh hưởng đến quyền lợi của người tiêu dùng.
Nếu không quy định việc hợp tác với các nhà mạng tại Việt Nam là một yêu cầu bắt buộc, dễ thấy các NCCDV OTT sẽ trở thành các đối thủ thật sự của các nhà mạng Việt Nam trong thị trường liên lạc di động.
Nhìn vào cấu trúc thị trường viễn thông tại Việt Nam hiện nay, mặc dù có năm doanh nghiệp cung cấp dịch vụ thoại và nhắn tin, nhưng trên thực tế cuộc chơi đã ngã ngũ khi thị phần của ba doanh nghiệp MobiFone, Vinaphone và Viettel chiếm gần hết thị trường. Chung gốc sở hữu, từ góc độ lý thuyết, việc thuyết phục người tiêu dùng tin rằng đây là một thị trường có tính cạnh tranh cao có vẻ như hơi miễn cưỡng.
Dự thảo phải tạo sức ép cạnh tranh
Thiếu vắng sức ép cạnh tranh đó, trong nhiều năm thị trường viễn thông của Việt Nam hầu như vẫn giậm chân tại chỗ. Mặc dù số lượng người dùng rất đông đảo, mặc dù giá cước 3G của Việt Nam phổ biến ở mức 70.000 đồng không giới hạn trong một tháng, nhưng liệu người tiêu dùng đã thực sự hài lòng với chất lượng viễn thông?
Do vậy, nên loại bỏ điều kiện bắt buộc NCCDV phải hợp tác với các nhà mạng của Việt Nam như trong dự thảo mà có thể mở rộng điều kiện cung cấp dịch vụ của các NCCDV nước ngoài thành: “NCCDV thoại, nhắn tin trên nền Internet nước ngoài có thu giá cước không đặt máy chủ tại Việt Nam phải thông qua thỏa thuận thương mại với doanh nghiệp viễn thông Việt Nam có giấy phép cung cấp dịch vụ viễn thông loại hình dịch vụ thoại, nhắn tin trên nền Internet; hoặc phải có hiện diện thương mại tại Việt Nam và được cấp phép cung cấp dịch vụ viễn thông loại hình dịch vụ thoại, nhắn tin trên nền Internet”.
Với việc mở rộng điều kiện như vậy, NCCDV có thể tùy chọn liên kết với nhà mạng Việt Nam hoặc thành lập một pháp nhân mới và hiện diện thương mại tại Việt Nam.
Trước mắt có thể doanh thu từ mảng thoại và nhắn tin truyền thống của các nhà mạng Việt Nam sẽ bị suy giảm. Tuy nhiên để bù đắp cho phần doanh thu suy giảm này, các nhà mạng Việt Nam có thể cân nhắc các giải pháp khác. Thứ nhất là việc đa dạng hóa các gói dịch vụ Internet di động (ngoài gói cước 3G như hiện nay, các nhà mạng sẽ cung cấp các gói 3G chuyên dành cho dịch vụ OTT, như thế nhà mạng Việt Nam cũng hưởng lợi từ các gói cước 3G mà họ cung cấp cho dịch vụ OTT); hoặc đa dạng hóa phương thức thoại và nhắn tin (ví dụ các dịch vụ giá trị gia tăng như multimedia, conference...).
Nhìn từ góc độ này, bằng việc tạo hành lang pháp lý cho sự vận hành của dịch vụ OTT, nền tảng cho một thị trường viễn thông cạnh tranh được tạo lập. Sức ép để các “đại gia” di động của Việt Nam phải đa dạng hóa sản phẩm, cải thiện chất lượng dịch vụ được hình thành.
Cạnh tranh bao giờ cũng đau đớn. Muốn tồn tại trên thương trường, doanh nghiệp phải luôn thay đổi và thích nghi với các thay đổi và cả thách thức mà công nghệ và các khuynh hướng kinh doanh mới đòi hỏi. Chỉ khi đối mặt với cạnh tranh, mới có động lực để phát triển.
(*) Đại học Luật TPHCM
|
Nội dung đáng chú ý nhất của dự thảo là điều kiện cung cấp dịch vụ thoại, nhắn tin trên nền Internet. Cụ thể, điều 6 của dự thảo quy định: 1. Nhà cung cấp dịch vụ (NCCDV) thoại, nhắn tin trên nền Internet trong nước có thu giá cước chỉ được cung cấp dịch vụ khi là doanh nghiệp và có giấy phép cung cấp dịch vụ viễn thông loại hình dịch vụ thoại, nhắn tin trên nền Internet. 2. NCCDV thoại, nhắn tin trên nền Internet trong nước không thu giá cước không cần phải có giấy phép cung cấp dịch vụ viễn thông. 3. NCCDV thoại, nhắn tin trên nền Internet nước ngoài có thu giá cước không đặt máy chủ tại Việt Nam phải thông qua thỏa thuận thương mại với doanh nghiệp viễn thông Việt Nam có giấy phép cung cấp dịch vụ viễn thông loại hình dịch vụ thoại, nhắn tin trên nền Internet. 4. NCCDV thoại, nhắn tin trên nền Internet nước ngoài chỉ được đặt máy chủ tại Việt Nam khi hợp tác với doanh nghiệp viễn thông Việt Nam có giấy phép cung cấp dịch vụ viễn thông loại hình dịch vụ thoại, nhắn tin trên nền Internet phù hợp với cam kết quốc tế và các quy định về đầu tư nước ngoài quy định tại Luật Viễn thông. |
Mời đọc thêm







