Tại sao người Việt chưa dùng hàng Việt?
![]() |
| Xe đạp của Trung Quốc bán trong một cửa hàng ở TPHCM. Nhờ chính sách định giá đồng nhân dân tệ thấp, hàng hóa của Trung Quốc đã dễ dàng thâm nhập và chiếm lĩnh thị trường nhiều nước. Ảnh: Lê Toàn. |
(TBKTSG) - LTS: Có nhiều quan điểm khác nhau xoay quanh chính sách tỷ giá của Việt Nam hiện nay. TBKTSG xin giới thiệu bài phân tích của chuyên gia kinh tế Huỳnh Thế Du về việc định giá đồng tiền Việt Nam, tác động của nó ra sao đến cả hoạt động ngoại thương lẫn sản xuất trong nước.
Hàng hóa ngoại tràn ngập thị trường trong nước làm cho sản xuất gặp vô vàn khó khăn, thâm hụt thương mại ngày một lớn, nhất là trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu hiện nay.
Tại sao vậy? Phải chăng người Việt không yêu hàng Việt vì chất lượng thấp hay người Việt sính ngoại, hay vì công tác tuyên truyền chưa đủ?
Với những gì đang xảy thì dường như không phải do những vấn đề nêu trên vì hàng hóa nước ngoài được tiêu thụ nhiều nhất tại Việt Nam là hàng Trung Quốc mà phần nhiều bị mang tiếng là kém chất lượng. Vấn đề mấu chốt ở đây là giá cả. Hàng Trung Quốc quá rẻ so với hàng Việt Nam.
Có nhiều nguyên nhân khác làm cho người Việt chưa mặn mà với hàng hóa trong nước, nhưng có lẽ giá cả là một trong những yếu tố quan trọng nhất đối với các loại hàng hóa thông thường.
Một quả trứng gà được nhập từ Trung Quốc về đến Việt Nam chỉ có 1.000 đồng, trong khi giá vốn của một quả trứng tương tự ở Việt Nam đã gần 1.400 đồng, đắt hơn gần 30%. Không riêng gì trứng gà mà hầu hết các loại hàng hóa thông thường khác của Trung Quốc thường rẻ hơn các loại hàng hóa cùng loại của Việt Nam vài ba chục phần trăm. Một mức chênh lệch rất đáng kể đối với người tiêu dùng, nhất là những người phải tính toán từng đồng chi tiêu.
Tại sao điều này có thể xảy ra?
Phải chăng các nhà sản xuất Trung Quốc có bí kíp gì đó để có thể sản xuất ra hàng hóa có giá rẻ đến vậy hay là các nhà sản xuất Việt Nam kém hơn?
Thực ra, khi nhìn vào các cơ sở sản xuất hàng hóa thông thường cùng loại ở cả hai nước sẽ thấy dường như chẳng có gì khác biệt, thậm chí trong nhiều lĩnh vực các doanh nghiệp Việt Nam còn hiệu quả hơn. Như vậy, giá bán phải như nhau chứ sao lại khác biệt nhiều đến như vậy?
Câu trả lời nằm ở chính sách tỷ giá hối đoái.Cả hai nước đều gần như cố định tỷ giá đồng tiền của mình với đồng đô la Mỹ. Tuy nhiên, điều khác biệt là Trung Quốc đã và đang chủ ý giữ giá đồng tiền của họ dưới giá trị thực của nó mà theo nhiều người con số này có thể từ 20-40%, trong khi ở Việt Nam dường như điều ngược lại đang xảy ra.
Hiện tại 1 đô la đổi được 6,83 nhân dân tệ (RMB) hay 17.856 đồng. Tính chéo ra 1 RMB đổi được 2.614 đồng (17.856/6,83) (1).
Với tỷ giá nêu trên, tính bằng nhân dân tệ thì giá một trái trứng gà Trung Quốc và Việt Nam lần lượt sẽ là 0,38 RMB (1.000/2.614) và 0,54 RMB (1.400/2,614).
Với mức giá này rõ ràng Trung Quốc sẽ thoải mái bán trứng gà sang thị trường Việt Nam, trong khi trứng gà Việt Nam khó lòng mà vào được thị trường Trung Quốc. Điều tương tự cũng xảy ra đối với nhiều loại hàng hóa khác.
Việc gì sẽ xảy ra nếu Trung Quốc để giá trị đồng tiền của họ đúng giá trị so với đồng đô la? Giả sử giá trị đồng nhân dân tệ sẽ cao hơn 30% so với con số hiện tại? Khi đó 1 đô la chỉ đổi được 5,25 RMB nhưng vẫn đổi được 17.856 đồng. Tính ra một nhân dân tệ sẽ đổi được 3.400 đồng (17.856/5,25). Giá thành một quả trứng gà Trung Quốc tính ra tiền Việt sẽ lên đến 1.360 đồng (0,38 x 3.400) (2), tương đương với giá thành sản xuất ở Việt Nam.
Điều đương nhiên là các nhà sản xuất trong nước sẽ có lợi thế hơn vì hàng Trung Quốc vẫn bị mang tiếng là kém chất lượng (ví dụ, nếu tính tỷ giá sòng phẳng thì một chiếc xe gắn máy Trung Quốc có chất lượng khá một chút sẽ có giá bằng một chiếc xe gắn máy của Honda lắp ráp tại Việt Nam. Nếu giá bằng nhau thì người tiêu dùng mua cái nào chắc ai cũng biết).
Tương tự, nếu tính bằng đồng nhân dân tệ thì giá thành một quả trứng gà Trung Quốc vẫn là 0,38 RMB, trong khi giá thành trứng gà Việt Nam cũng xấp xỉ con số này. Lúc này trứng gà Việt Nam sẽ có cơ hội vào thị trường Trung Quốc.
Từ những phân tích trên cho thấy lý do tại sao hàng hóa Việt Nam khó vào thị trường Trung Quốc, trong khi hàng Trung Quốc cứ ào ào chảy sang Việt Nam bằng cả đường chính ngạch lẫn tiểu ngạch, làm cho thâm hụt thương mại của Việt Nam với Trung Quốc lên đến 11,1 tỉ đô la, gấp hơn hai lần tổng giá trị hàng Việt Nam xuất sang Trung Quốc và bằng 62% tổng lượng nhập siêu năm 2008 của cả nước.
Như vậy, nếu sự chênh lệch giá cả quá mức không được giải quyết thì sẽ rất khó để có được thành công như mong đợi trong cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” cũng như mục tiêu giảm thâm hụt với Trung Quốc nói riêng, thâm hụt thương mại tổng thể nói chung.
Cho dù những giải pháp khác có thể cải thiện phần nào, nhưng dường như khó có doanh nghiệp sản xuất hàng hóa thông thường nào có thể cạnh tranh với đối thủ có mức giá thấp hơn đến vài ba chục phần trăm khi mà giá cả vẫn là quan tâm số một.
Bản chất của việc giữ đồng tiền có giá trị thấp giống như chính sách vừa trợ cấp cho hàng xuất khẩu vừa đánh thuế hàng nhập khẩu nên tất cả các nhà sản xuất trong nước sẽ được hưởng lợi. Ngược lại, việc giữ giá đồng tiền cao giống như chính sách vừa đánh thuế hàng xuất khẩu, vừa hỗ trợ hàng nhập khẩu nên tất cả các nhà sản xuất trong nước sẽ gặp bất lợi. Đây chính là lý do tại sao rất nhiều nước liên tục chỉ trích Trung Quốc về chính sách này. (xem bài Đồng nhân dân tệ gây khó cho các nước láng giềng)
Trong bối cảnh hiện nay, khó mà mong đợi Trung Quốc thay đổi chính sách tỷ giá hối đoái vì họ biết rất rõ lợi ích của mình là gì. Điều Việt Nam chỉ có thể làm là chính sách tỷ giá của mình.
___________________________
(1) Tỷ giá RMB/đồng Việt Nam tháng 10 theo thông báo của NHNN là 2.491 và thị trường tự do có thể khác 2.614 một chút.
(2) Việc tính toán sẽ phức tạp hơn nhiều nếu đưa yếu tố hàng nhập khẩu trong giá thành. Tuy nhiên, sự khác biệt có thể sẽ không nhiều và bản chất vấn đề dường như không thay đổi.









