Từ đâu đưa đến khủng hoảng tài chính?
![]() |
| Một sinh viên đang biểu tình phản đối cuộc hủng hoảng tài chính lẫn những biện pháp của FED tại Đại học Hofstra ở Hempstead, New York ngày 15-10 - Ảnh: Reuters |
(TBKTSG Online) - Cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay đã gây ra nhiều xáo trộn lớn, nhiều ngân hàng bị phá sản, thị trường chứng khoán trên thế giới tuột dốc. Nhiều người lo sợ thế giới lại lâm vào cuộc đại khủng hoảng kinh tế như năm 1929. Nhưng yếu tố nào đã đưa đến cuộc khủng hoảng này?
Nguồn gốc của cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay nằm ngay tại ngân hàng. Mặc dù ngân hàng có tài sản dưới dạng - bất động sản, kim loại quý hay tiền mặt, nhưng tổng giá trị của nó so với số tiền cho vay vẫn ít hơn nhiều. Phần lớn tiền cho vay xuất phát từ nguồn của những người gởi tiết kiệm. Ðây là tiền kinh doanh lấy lãi của ngân hàng, ngoài ra ngân hàng cổ phần còn vay tiền từ ngân hàng trung ương hay từ các ngân hàng cổ phần khác để điều chỉnh nhu cầu chi thu tiền tệ.
Như vậy hệ thống ngân hàng trên thực tế là một dạng "mua bán chịu". Ðiều này có nghĩa, các hoạt động của ngân hàng đều dựa vào sự tin tưởng lẫn nhau: ngân hàng này cho ngân hàng khác mượn tiền, vì biết chắc là khi cần họ sẽ nhận lại cả vốn lẫn lời.
Chuyện gì sẽ xảy ra, nếu giám đốc của một ngân hàng một lần đánh giá sai lầm về đối tác của mình như trường hợp ngân hàng KfW của Ðức? Cách đây không lâu KfW chuyển 300 triệu euro cho ngân hàng đầu tư Lehman Brothers ở New York, đúng lúc khi Lehman Brothers bị phá sản và số tiền này coi như bị mất và hậu quả là KfW gặp khó khăn trong việc chi trả với khách hàng.
Qua sự kiện này nhiều ngân hàng lo ngại sẽ gặp phải trường hợp như KfW, nên thận trọng. Kết quả là việc trao đổi tiền giữa các ngân hàng trước đây rất dễ dàng thì bây giờ trở nên khó khăn và dần đưa đến tình trạng không ngân hàng nào tin ngân hàng nào.
Nhưng tại sao ngân hàng có thể bị phá sản?
Ðiều này tùy thuộc vào ba yếu tố: vấn đề bất động sản tại Mỹ, chính sách của chính phủ Mỹ và chính sách cho vay tiền của ngân hàng. Vào những năm 1990 phong trào mua bán bất động sản ở Mỹ rất sôi động, nguyên nhân là đồng đô la Mỹ rất rẻ.
Các ngân hàng cổ phần vay tiền từ Ngân hàng trung ương Mỹ Fed (Federal Reserve System) với một lãi suất thấp, vì vậy họ cho khách hàng vay tiền dễ dàng dĩ nhiên với lãi suất cao hơn lãi suất mà họ phải trả cho Fed.
Khác với nhiều nước ở châu Âu, ngân hàng cổ phần Mỹ cho vay tiền mua bất động sản, nhưng không kiểm tra khả năng chi trả của khách. Ngay cả những người đang thất nghiệp vẫn có thể vay tiền mua nhà dễ dàng theo một lãi suất lưu động. Lãi suất này thường thấp vào thời điểm mượn, nhưng do tình hình kinh tế có thể tăng lên cao vào bất cứ lúc nào. Sự kiện này đã làm nhiều người bị phá sản, mất cả vốn lẫn lời.
Trước đây, để tăng mức độ trú ngụ của người dân, Chính phủ Mỹ khuyến khích ngân hàng cho vay vốn xây nhà. Trong thời gian đầu mọi việc xảy ra có vẻ hoàn hảo: dân có nhà ở, người kinh doanh nhà có lời, nhiều người có công ăn việc làm, ngân hàng thu lãi và giá nhà đất tăng. Lãi suất vẫn còn thấp, đẩy nhu cầu mua nhà lên cao và qua đó giá nhà đất liên tục tăng lên. Nếu có khách hàng nào không đủ sức trả tiền thì ngân hàng có thể lấy nhà (lúc này giá còn cao) bán đấu giá để trừ nợ, vì vậy ngân hàng vẫn có lời và tiếp tục cho vay.
Một con vít xoắn giá cả bắt đầu xuất hiện. Giá nhà đất tiếp tục tăng, ngày càng cao, số người vay tiền ngày càng nhiều. Trong thời gian này nhiều ngân hàng cổ phần dùng giấy nợ làm thành một loại chứng khoán phái sinh (derivative) và buôn bán với nhau.
Hậu quả
Lo rằng đồng đô la bị mất giá và kinh tế Mỹ có thể bị ảnh hưởng nên Ngân hàng trung ương Mỹ quyết định cho tăng lãi suất. Qua đó lãi suất cho vay của ngân hàng cổ phần cũng tăng theo tương ứng. Số khách không tiền trả và bất động sản bị bán đấu giá, cũng tăng lên.
Trong thời gian này nhu cầu nhà đất đã gần như bão hòa, giá không còn tăng và bắt đầu đi xuống. Do giá nhà đất giảm nên số tiền ngân hàng thu lại (qua bán đấu giá) không đủ. Họ bắt đầu lo lắng về số chứng khoán mua trước đây, bây giờ mất giá và không bán được.
Vì không biết rõ ai trong đối tác của mình còn "sức" hay đang bị "bệnh" nên các ngân hàng không dễ dàng cho vay tiền với nhau như trước đây. Một tâm lý nghi ngờ bắt đầu xuất hiện. Qua đó, "động mạch" tiền lưu chuyển giữa các ngân hàng để nuôi và điều hòa hệ thống tiền tệ trên thị trường bị trì trệ.
Trước tiên giữa các ngân hàng với nhau và sau đó dần đến doanh nhân và ngân hàng không dám cho doanh nghiệp vay tiền. Nhưng doanh nghiệp thì vẫn cần vốn để làm ăn. Không có vốn thì không sản xuất và qua đó hệ thống kinh tế sẽ không phát triển, cổ phiếu của doanh nghiệp sẽ mất giá trị và thị trường chứng khoán sẽ bị ảnh hưởng xấu.
Ðó là nguyên nhân tại sao trong thời gian qua, thị trường chứng khoán bị tuột xuống, lúc đầu ở Mỹ sau lan rộng ra khắp nơi trên thế giới. Bây giờ từ một cuộc khủng hoảng tài chính lôi theo cuộc khủng hoảng kinh tế.
Mục đích của các biện pháp hiện nay của chính phủ các nước trên thế giới bảo đảm trả tiền mượn cho các ngân hàng không đủ sức chi trả là để lấy lại lòng tin và tìm cách đả thông "kinh mạch" tiền tệ giữa các ngân hàng với nhau.
Người ta hy vọng, với các biện pháp này, thị trường tiền tệ sẽ tự điều chỉnh và có thể thoát ra cuộc khủng hoảng hiểm nghèo hiện nay, tuy nhiên cuối cùng dân chúng vẫn là người phải gánh chịu mọi hậu quả dù thoát hiểm hay không.
TRANG QUAN SEN (Theo Spiegel Online)







