Vắng khách, ngành du lịch nên nhìn lại mình
![]() |
| Những ngày cuối năm nay, lượng khách nước ngoài đến VN giảm mạnh, các chuyến bay đến Tân Sơn Nhất chỉ có đông Việt kiều về quê ăn tết. Ảnh: Trí Dũng |
Cùng với những bế tắc của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, các nhà đầu tư chứng khoán, kinh doanh bất động sản... ngành du lịch Việt Nam cũng đang đối mặt với nhiều khó khăn do cơn bão suy thoái kinh tế. Từ góc nhìn của một hướng dẫn viên du lịch, tôi xin nêu một số nhận xét về thực trạng kinh doanh lữ hành và khách sạn hiện nay.
Tình trạng ế ẩm ngay trong mùa cao điểm du lịch năm nay - khách du lịch quốc tế giảm mạnh - ảnh hưởng nặng đến doanh số của các khách sạn và các công ty lữ hành. Tình cảnh ảm đạm này đã làm thay đổi cung cách cư xử trong quan hệ giữa các khách sạn và các công ty lữ hành.
Không còn những lời từ chối lạnh lùng với lý do ngắn gọn là "hết phòng" khi doanh nghiệp lữ hành đề nghị đàm phán hợp tác kinh doanh tour, mấy tháng gần đây, các khách sạn đua nhau chào mời nồng nhiệt, săn đón từng đoàn khách du lịch.
Từ khi ngành du lịch Việt Nam mở cửa đón khách ồ ạt hồi đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, quan hệ của hai mảng này càng ngày càng nhợt nhạt, phía khách sạn quay lưng, bỏ qua những đề nghị bàn thảo hợp tác của các doanh nghiệp lữ hành nhằm hạ giá thành, tăng sức cạnh tranh. Khi giá phòng cao tít trời xanh thì các hãng lữ hành rất khó làm giá hấp dẫn để hút khách vào Việt Nam.
Không chỉ có thế, rất nhiều khách sạn ở nước ta không có tinh thần “đồng đội”, không tôn trọng "bạn hàng" với các doanh nghiệp lữ hành, là những đối tác cùng chia sẻ ngọt bùi với họ. Nhiều khách sạn sẵn sàng bán phòng trực tiếp cho những công ty du lịch nước ngoài dù biết rõ đó là đối tác của một công ty trong nước vốn đã quan hệ làm ăn với khách sạn này từ lâu; thậm chí kể cả khi công ty dịch vụ lữ hành bị "cắt mối hàng" cùng thuộc một tổng công ty với khách sạn đó.
Sự cần lụy luôn thuộc về phía lữ hành vì không có phòng là không có khách. Trong khi ngành khách sạn vẫn sống khỏe vì hoạt động của khách sạn hôm nay bao gồm cả dịch vụ du lịch chứ không chỉ là dịch vụ lưu trú; họ cũng bán tour, cho thuê xe, tổ chức sự kiện, hội nghị v.v. Vì vậy hai mảng này không những mất sự đoàn kết hỗ trợ cho chiến lược chung của toàn ngành mà nhiều khi còn là đối thủ, cạnh tranh nhau nữa.
Giữa các khách sạn cùng đẳng cấp hoặc cùng trong một tổng công ty cũng thiếu sự phối hợp cần thiết. Họ thản nhiên để khách ra đi sau câu từ chối chứ không làm một động tác dễ dàng là nhấc điện thoại tìm phòng cho khách ở khách sạn bạn cùng đẳng cấp, cùng tổng công ty để bảo vệ sự an toàn và hài lòng của khách.
Thiết nghĩ, ngoài chương trình phối hợp với Vietnam Airlines, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cũng cần đề nghị có sự hợp tác hữu hiệu từ các tập đoàn khách sạn lớn trong nước, từ các hãng du lịch quốc tế để cải thiện tình hình.
Ngoài khó khăn chung do tình hình kinh tế suy thoái toàn cầu, các doanh nghiệp ngành du lịch cũng nên nhìn lại mình để điều chỉnh, xốc lại đội ngũ và cải thiện những điều chưa làm tốt chứ không chỉ là việc đẩy mạnh quảng bá hình ảnh khi bản thân hình ảnh của chúng ta chưa thật đẹp đẽ, có sức hấp dẫn du khách năm châu.
Và, vẫn còn đó những "căn bệnh mãn tính” của du lịch Việt Nam như sản phẩm du lịch cũ kỹ, sáo mòn dù hàng năm có biết bao nhiêu lễ hội; chương trình hoạt động năm sau như năm trước, mười năm quay lại... vẫn thế.
TRÍ DŨNG








