Vụ án “vườn mít” ở Bình Phước: Cuộc chiến của những nguyên tắc
Nguyên Tấn
(TBKTSG) - Sự kiện gia đình anh Lê Bá Mai, bị cáo trong vụ án “vườn mít” ở Bình Phước”, mới đây có đơn kiến nghị “xin” được xét xử, lại một lần nữa gióng lên tiếng kêu về một hành trình đi tìm kiếm công lý với con đường xa tít tắp và đầy cam go. Người ta có cảm tưởng, ở đó những nguyên tắc cơ bản của thực thi công lý đang bị thử thách nặng nề...
Nguyên tắc thứ nhất là quyền được xét xử không được chậm trễ quá mức của người bị buộc tội. Quyền này đã được ghi nhận tại Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, 1996 (ICCPR) của Đại hội đồng Liên hiệp quốc mà Việt Nam đã tham gia với tư cách là thành viên. Theo đó, ICCPR quy định rằng “bất cứ người nào bị bắt hoặc bị giam giữ vì một tội hình sự thì phải được sớm đưa ra tòa án hoặc một cơ quan tài phán có thẩm quyền thực hiện chức năng tư pháp và phải được xét xử trong thời hạn hợp lý hoặc được trả tự do...” (khoản 3 điều 9); “trong quá trình xét xử về một tội hình sự, mọi người đều có quyền được hưởng một cách đầy đủ và hoàn toàn bình đẳng những bảo đảm tối thiểu sau đây:... được xét xử mà không bị trì hoãn một cách vô lý” (điểm C khoản 3 điều 14).
Việc đưa ra quyền được xét xử không được chậm trễ quá mức nhằm đảm bảo cho người bị buộc tội hoặc nhanh chóng có một bản án định tội rõ ràng, phân minh của cơ quan có thẩm quyền xét xử (để chấp hành, thực thi) hoặc nhanh chóng được minh oan, giải thoát cho họ khỏi vòng lao lý nếu không có căn cứ buộc tội. Như đã dẫn, ICCPR cho rằng quyền được xét xử không được chậm trễ quá mức là một trong những quyền “tối thiểu” hợp thành quyền dân sự và chính trị của con người mà các thành viên tham gia phải có nghĩa vụ bảo vệ và bảo đảm thực thi.
Quyền được xét xử không được chậm trễ quá mức chưa được định danh thành nguyên tắc trong Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 (BLTTHS) của nước ta nhưng thực chất nguyên tắc này đã được cụ thể hóa khá rõ qua các điều khoản quy định về thời hạn xét xử vụ án hình sự (điều 176, điều 242 BLTTHS). Luật quy định thời hạn cho từng trường hợp cụ thể và yêu cầu tòa án như một nghĩa vụ bắt buộc (trừ một số trường hợp), “phải” đưa vụ án ra xét xử trong từng thời hạn cụ thể ấy.
Quay trở lại trường hợp Lê Bá Mai, vụ án “vườn mít” đã kéo dài ròng rã tám năm trời nhưng tiếc thay đến nay hồi kết của vụ án vẫn mịt mù. Sinh mệnh dân sự của bị cáo nằm trong thẩm quyền quyết định của các cơ quan tố tụng, do vậy vẫn bị... treo lơ lửng. Ngày 24-5-2011, vụ án tưởng đã có hồi kết khi TAND tỉnh Bình Phước tuyên Lê Bá Mai không phạm tội “hiếp dâm trẻ em, giết người” và được trả tự do ngay tại phiên tòa, tuy nhiên VKSND cùng cấp lại kháng nghị bản án theo thủ tục phúc thẩm. Từ đó đến nay, tức đã gần một năm trôi qua, theo đơn kiến nghị của gia đình Lê Bá Mai, bị cáo vẫn trong tình trạng mỏi mòn chờ đợi việc xét xử dù vụ án đã được Tòa phúc thẩm TAND Tối cao tại TPHCM thụ lý. Trong khi đó, theo quy định tại điều 242 BLTTHS, Tòa phúc thẩm TAND Tối cao phải mở phiên tòa phúc thẩm trong thời hạn chín mươi ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án. Nếu đúng như đơn khiếu nại, rõ ràng tòa án đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc quyền được xét xử không được chậm trễ quá mức đối với bị cáo Lê Bá Mai.
Không chỉ vụ án “vườn mít” mà sự chậm trễ xét xử trong nhiều vụ án khác khiến không ít người thường nghi ngờ rằng sở dĩ có sự chậm trễ do thẩm phán được phân công xét xử phải hỏi ý kiến của tòa cấp trên về đường lối xét xử, nhất là đối với những vụ án gai góc, phức tạp. Nếu đúng như vậy thì đây quả là một thói quen nguy hiểm, khó có thể chấp nhận vì hoàn toàn đi ngược với nguyên tắc nằm lòng “xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” của bất cứ nền tố tụng nào trên thế giới, trong đó có Việt Nam.
Vụ án “vườn mít” từng được đưa vào trường luật dạy cho các sinh viên như một trường hợp điển hình về những sai lầm mang tính kinh điển liên quan đến hoạt động điều tra, thu thập và đánh giá chứng cứ của một vụ án hình sự. Nhưng để rút ra được những sai lầm ấy, vụ án đã trải qua nhiều thăng trầm và kịch tính. Bắt đầu từ việc sau hai lần mang án tử hình, bị cáo Lê Bá Mai viết đơn kêu oan đến các cơ quan chức năng, tuy nhiên vào thời điểm ấy một phó chánh án TAND Tối cao vẫn không chấp nhận kháng nghị giám đốc thẩm với lập luận rằng “lời khai nhận của Lê Bá Mai đủ căn cứ buộc tội”. Đáng ngạc nhiên là sau đó chính VKSND Tối cao - cơ quan lãnh đạo của ngành thực hành quyền công tố, chứ không phải cơ quan nào khác, đã ra quyết định kháng nghị giám đốc thẩm, trong đó chỉ ra hàng loạt sai lầm nghiêm trọng của vụ án. Nhờ đó, hai bản án tuyên tử hình đối với Lê Bá Mai đều bị hủy và như đã nêu trên, ngày 18-5-2011 tử tù này đã được TAND tỉnh Bình Phước tuyên vô tội do không đủ cơ sở để buộc tội. Một trong những lý do quan trọng để TAND tỉnh Bình Phước đưa ra một quyết định “lịch sử” như vậy là vì hầu hết những sai lầm dẫn đến đánh giá sai vụ án mà kháng nghị giám đốc thẩm yêu cầu phải khắc phục đã không khắc phục được cho dù tòa đã trả hồ sơ để điều tra bổ sung làm rõ. Hay nói cách khác, cơ quan điều tra và cơ quan công tố đã không chứng minh được hành vi phạm tội của bị cáo trong vụ án.
Phán quyết của TAND tỉnh Bình Phước rõ ràng đã đánh dấu một bước tiến vượt bậc trong việc áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội. Nguyên tắc này, nghĩa là không ai có thể bị coi là có tội khi chưa chứng minh được hành vi phạm tội và được xác định bằng một bản án có hiệu lực pháp luật của tòa án. Có ý kiến cho rằng nếu áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội thì sẽ đối lập với nguyên tắc xác định sự thật của vụ án. Nhưng sự thật của vụ án là một khái niệm đặc biệt. Nó không phải là tất cả những gì hiện ra trong bức hình do một tay thợ ảnh chụp lên. Sự thật của vụ án hình sự chỉ có thể được thừa nhận chỉ và chỉ khi nó được chứng minh bằng các chứng cứ cụ thể và theo một quy trình luật định chặt chẽ (BLTTHS). Và vì vậy, khi không chứng minh được thì đương nhiên theo logic phải áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội và thậm chí kể cả nguyên tắc “thà bỏ lọt tội phạm còn hơn làm oan người vô tội” như nhiều quốc gia đang áp dụng. Đó chính là chuẩn mực của nền công lý. Nếu không, trong rất nhiều trường hợp vụ án sẽ phải bị kéo dài mãi mà “vườn mít” là một thí dụ điển hình.






