Thứ Ba, 18/01/2022, 12:03
29 C
Ho Chi Minh City

Đặt báo in

Thông tin quảng cáo

Thông tin quảng cáo

Bear, có lắm bear…

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

Bear, có lắm bear…

Huy Nam (*)

Bài 12:

Bear, có lắm bear…

Nếu thuật ngữ bull (trong đầu tư giá lên) khá đơn giản, thì bear có lắm điều để nói. Đặc biệt là khi nó được ghép bổ nghĩa cho một danh từ khác.

Bear hug: là một cách ra giá nhằm mục đích để “mua” cho bằng được (buyout offer) một công ty, một cổ đông hay một nhóm cổ đông, để giành quyền kiểm soát công ty hay giành lợi thế chủ động thuộc về mình. Theo cách này thì giá chào phải là giá “cao bất ngờ”, đến mức khó mà từ chối. Điều này được diễn đạt là: “So favorable to stockholders of a company targeted for acquisition that there is little likelihood they will refuse the offer.” Chẳng những một bear hug đưa ra giá cao hơn nhiều so với thị giá, nó còn có thể có đề nghị trả thêm tiền mặt nữa!

Như vậy từ bear ở đây không có nghĩa là “đầu tư giá xuống” mà là “gấu” thật. Bear hug theo nghĩa đen là “ôm cứng”, hiểu sâu hơn nữa có thể gọi là “ôm kiểu gấu”. Đấy, theo cách dùng sức mạnh “đôi tay gấu” khi ông tướng này khống chế con mồi. Có lẽ tay gấu ngâm rượu bổ khỏe là vậy. Ở đây bear hug có thể hiểu là “vây mua”.

Bear raid: từ bear ở đây lại nằm trong bối cảnh giá xuống, nhưng mang hơi hướng là sự câu kết: “A concerted effort to drive down the price of a stock by selling many shares short.” (Selling short là bán trước, thường bị gọi là bán khống, ta sẽ tìm hiểu ở một chủ đề khác). Sự săn lùng giá xuống (được cho là không lành mạnh) này xảy ra phổ biến vào những năm đầu 1900 tại các thị trường Âu Mỹ, với thủ đoạn phao tin đồn hay thêu dệt chuyện bất lợi cho công ty mục tiêu (bị tấn công) trên các ấn phẩm kinh tế. Mục đích để gây hoang mang cho nhà đầu tư, làm cho họ bán tháo cổ phiếu đi (selling stampede) để kéo giá xuống theo ý đồ bất minh hay kế hoạch thâu tóm.

Bear trap: có thể hiểu đây là “cạm bẫy đầu cơ giá xuống”. Người đầu cơ bán trước (sell short) có thể rơi vào nguy cơ bất lợi trong quá trình họ chủ trương đẩy giá xuống, vì chính họ đã tạo ra một lượng lớn cổ phần đang chịu áp lực phải mua lại: “The bear trap occurs when the bears find they must repurchase the shares from an individual or a group at an artificial price determined by the seller.”

Ra là vậy, do bear có nhiều “mặt trái” hơn nên trong thị trường chứng khoán chiều hướng giao dịch này được luật lệ canh chừng nhiều và nghiêm ngặt hơn.

(*) Chuyên gia tài chính-chứng khoán, tác giả sách "Tài chính chứng khoán qua nhịp cầu Anh-Việt" do NXB Trẻ, Thời báo Kinh tế Sài Gòn và Trung tâm kinh tế châu Á-Thái Bình Dương hợp tác xuất bản.

Đường dẫn tới các bài trước được đăng trong mục Tin bài khác bên dưới.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

Có thể bạn quan tâm

Tin mới