Thứ Năm, 20/01/2022, 09:35
24 C
Ho Chi Minh City

Đặt báo in

Thông tin quảng cáo

Thông tin quảng cáo

Gốm Việt: 1.000 năm nhìn lại

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

Gốm Việt: 1.000 năm nhìn lại

Nguyễn Đình

Tranh trang trí trên sản phẩm gốm.

(TBKTSG) – Lần đầu tiên các dòng gốm tiêu biểu từ thời Lý, Trần, Lê, Mạc – Lê Trung Hưng, Nguyễn… được tập hợp lại trong triển lãm chuyên đề “1.000 năm gốm Việt” tại Bảo tàng TPHCM, làm mãn nhãn những người yêu thích gốm sứ Việt Nam.

Gốm Việt gắn liền với lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam. Sau hơn 10 thế kỷ bị giặc phương Bắc đô hộ, nhà Lý giành độc lập, mở ra một thời kỳ phát triển mới. Đặc biệt với việc định đô ở Đại La (sau đổi tên thành Thăng Long) vào năm 1010, nhà Lý đánh dấu một mốc son trong lịch sử dân tộc.

Song hành cùng với sự phát triển đất nước, nghề gốm cũng được chú trọng và phát triển. Những hiện vật tại triển lãm đã chứng minh kỹ thuật tài tình của nghệ nhân gốm thời Lý với lối tạo hình cốt gốm mỏng, xốp, có tráng men (chủ yếu màu men ngọc), đắp nổi hoa văn, họa tiết, khắc chìm trên cốt thai gốm, in khuôn… Đây chính là những kỹ thuật đặt nền tảng cho sự phát triển của các dòng gốm mãi về sau này như gốm Bát Tràng, Chu Đậu…

Sang đến các dòng gốm thời Trần, Lê, Mạc – Lê Trung Hưng, đồ gốm đã nâng tầm lên đẳng cấp mới với kỹ thuật tạo hình phong phú cùng các đồ án tiêu biểu như lá chuối, cánh sen, chim, cá, linh thú… Men thuốc trên sản phẩm cũng mang nét đặc trưng như men ngọc, men nâu, xanh trắng…, kết hợp đắp nổi, in khuôn, vẽ dưới men, trên men, kể cả dát vàng (gốm Chu Đậu) đã khiến cho gốm Việt Nam dần rạng danh trên bản đồ gốm sứ thế giới. Nhiều chuyến hàng gốm ở thời kỳ này đã xuất khẩu sang các nước trong khu vực, đến Trung cận Đông, Ai Cập và thị trường châu Âu.

Triển lãm cũng có sự góp mặt những dòng gốm ở khu vực Trung bộ ít được chú ý như gốm Gò Sành (Bình Định), gốm Châu Ổ (Quảng Ngãi), gốm Quảng Đức (Phú Yên). Nếu như Gò Sành đa dạng về chủng loại sản phẩm, hình dáng, màu men, gốm Châu Ổ lại dễ nhận diện với kiểu thức men màu (chủ yếu màu da lươn, vàng, xanh), đắp nổi, in khuôn. Trong khi đó, gốm Quảng Đức mộc mạc, chân phương với vết vỏ sò còn in hằn trên xương gốm – dấu tích của việc nung gốm dùng vỏ sò thay con kê để tạo men và cũng để tăng nhiệt cho lò nung. Đây là kỹ thuật chế tác và nung gốm độc đáo chỉ thấy ở gốm cổ Quảng Đức.

Tượng Đào Dâu, gốm Biên Hòa.

Nằm trong dòng gốm thời Nguyễn, hai tên gọi “gốm Lái Thiêu” và “gốm Biên Hòa” tuy là đàn em của gốm Sài Gòn, nhưng sự pha trộn của các trường phái gốm Trung Hoa ở gốm Lái Thiêu, đến nét giao thoa của kỹ thuật làm gốm phương Tây ở gốm Biên Hòa chính là nét độc đáo của hai dòng gốm này.

Những hiện vật đặc trưng của gốm Lái Thiêu góp mặt trong triển lãm là những hiện vật được chọn lựa khá tinh tế từ ba trường phái gốm gồm Quảng Đông, Phúc Kiến và Triều Châu, với những tên lò nổi tiếng một thời như Quảng Hòa Xương, Thái Xương Hòa, Vinh Phát, Hương Thành, Duyệt An…

Sự mộc mạc của gốm Phúc Kiến trên đồ gia dụng, đến màu men ve chai giản dị của gốm Quảng Đông trên tượng thờ, đôn chậu, và nét vẽ tinh tế của những nghệ nhân gốm Triều Châu trên tô, chén, bình… thể hiện các đề tài theo tiểu thuyết chương hồi cổ điển cũng như nhiều cảnh sinh hoạt đời thường, là những điểm nhấn độc đáo, hấp dẫn trong từng hiện vật gốm Lái Thiêu tại triển lãm.

Ở người hàng xóm gốm Biên Hòa, những hiện vật trưng bày chủ yếu ở giai đoạn từ sau khi trường Mỹ nghệ Biên Hòa thành lập (1903). Hiệu trưởng khi ấy là ông bà Balick người Pháp đã thổi một luồng gió mới vào dòng gốm Biên Hòa, với sự kết hợp giữa đường nét Á Đông, nguyên vật liệu địa phương và kỹ thuật làm gốm ảnh hưởng từ các dòng gốm Pháp. Do vậy, gốm Biên Hòa có đặc trưng rất riêng, đó là khắc chìm tô men trên sản phẩm, phủ men màu, mà độc đáo nhất là men xanh đồng trổ bông.

Đề tài thể hiện trên cốt thai gốm đa dạng đã định hình tên tuổi của gốm Biên Hòa đến tận những năm 1950 của thế kỷ 20. Các bức phù điêu tại triển lãm thể hiện rõ kỹ thuật khắc chìm tô men của gốm Biên Hòa với những đề tài rất gần gũi đời thường và gắn liền với văn hóa Việt. Bộ tượng gốm Biên Hòa, từ ông quan võ, nho sĩ, người phụ nữ, đến tượng Đào Dâu thiết tỏa… đều thể hiện được kỹ thuật tạo hình đặc sắc, lối phối màu, chấm men tinh tế, đều rất đáng để tìm hiểu, chiêm ngưỡng…

Triển lãm chuyên đề “1.000 năm gốm Việt” gồm 260 hiện vật của Bảo tàng TPHCM, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam (TPHCM), Bảo tàng Mỹ thuật TPHCM, Bảo tàng Phụ nữ Nam bộ và các nhà sưu tập tư nhân, diễn ra tại Bảo tàng TPHCM đến hết năm 2010.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

Có thể bạn quan tâm

Tin mới