(KTSG Online) - Việt Nam đang đứng trước một kế hoạch đầu tư công trung hạn đầy tham vọng cho giai đoạn 2026-2030 với tổng vốn dự kiến lên đến 8,22 triệu tỉ đồng, nhằm duy trì tỷ lệ đầu tư toàn xã hội ở mức cao từ 39-40% GDP.
- Kinh tế Việt Nam: ‘Đòn bẩy’ nợ và những con số GDP hào nhoáng
- Giải ngân đầu tư công mới đạt 12,6%, còn 46 bộ, địa phương dưới mức bình quân

Tuy nhiên, đằng sau những con số khổng lồ này là những thách thức không nhỏ về ổn định kinh tế vĩ mô mà các nhà hoạch định chính sách cần đặc biệt lưu tâm. Dựa trên mối quan hệ ràng buộc giữa đầu tư, tiết kiệm và cán cân thương mại, các chuyên gia cảnh báo rằng nếu một quốc gia đầu tư vượt quá khả năng tiết kiệm nội địa, tình trạng thâm hụt thương mại và phụ thuộc vào vay nợ nước ngoài là điều khó tránh khỏi.
Bài học từ giai đoạn 2006-2012 vẫn còn nguyên giá trị thời sự. Khi đó, việc mở rộng đầu tư quá mức nhưng dòng vốn không chảy vào khu vực sản xuất hàng xuất khẩu đã khiến nền kinh tế rơi vào vòng xoáy nhập siêu kéo dài, lạm phát phi mã và hệ thống ngân hàng đối mặt với nợ xấu gia tăng.
Hiện nay, dù Việt Nam duy trì thặng dư thương mại, nhưng phần lớn giá trị này lại thuộc về khu vực FDI, trong khi khu vực kinh tế trong nước vẫn thâm hụt và thiếu hụt tiết kiệm trầm trọng.
Điều này đặt áp lực nặng nề lên chính sách tiền tệ, dễ dẫn đến rủi ro lạm phát và phá giá tiền tệ nếu các dự án hạ tầng lớn chỉ kích hoạt đầu cơ bất động sản thay vì tạo ra hàng hóa xuất khẩu. Để phát triển bền vững, nguồn tài liệu nhấn mạnh Việt Nam cần chuyển trọng tâm sang nâng cao chất lượng đầu tư, ưu tiên các dự án có sức lan tỏa sang sản xuất và hỗ trợ doanh nghiệp nội địa tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Việc điều hành chính sách vĩ mô thận trọng, linh hoạt và phát triển thị trường vốn sẽ là chìa khóa để giảm bớt sự phụ thuộc vào hệ thống ngân hàng, bảo đảm an toàn tài chính quốc gia trong dài hạn.
Để tìm hiểu chi tiết hơn về các phân tích chuyên sâu và khuyến nghị chính sách cụ thể cho giai đoạn tới, mời quý độc giả đọc bài viết đầy đủ tại đây.






