Thứ Ba, 23/06/2026
32.3 C
Ho Chi Minh City
Html code here! Replace this with any non empty raw html code and that's it.

Kinh tế nông nghiệp xanh ĐBSCL: Không còn thời gian để chọn lựa

Nguyễn Thị Thương Linh (*)

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

(KTSG) - Năm 2025, số lượng doanh nghiệp tại đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) rút khỏi thị trường tăng đột biến ở mức 64,63%, cao hơn gần 50 điểm phần trăm so với mức bình quân của cả nước (14,81%)(1). Con số này không chỉ phản ánh những khó khăn diễn ra trong năm, mà còn là tín hiệu cảnh báo về năng lực chống chịu của doanh nghiệp ĐBSCL trước các “cú sốc” từ bên ngoài vốn ngày càng phức tạp và khó tiên liệu.

VCCI ĐBSCL đi thăm cánh đồng trồng lúa hữu cơ của Gạo Ông Du.

Ngay đầu quí 2-2025, việc Mỹ chính thức áp dụng các sắc thuế mới, đã giáng đòn trực diện vào khối doanh nghiệp xuất khẩu, kích hoạt hiệu ứng domino, đe dọa sự ổn định của toàn chuỗi cung ứng nông thủy sản trong vùng. Dù cú sốc này đã “đánh thức” nỗ lực đa dạng hóa thị trường của doanh nghiệp, song lộ trình này đang vấp phải những rào cản kỹ thuật khắt khe. Các yêu cầu về chuyển đổi xanh và tiêu chuẩn bền vững hiện đang trở thành “phép thử” nghiệt ngã đối với năng lực thích ứng của các doanh nghiệp và các tác nhân trong chuỗi giá trị hiện nay.

Bước sang năm 2026, khi các rào cản kỹ thuật (thuế quan và phi thuế quan) chưa kịp lắng xuống và doanh nghiệp còn đang loay hoay tìm giải pháp thích nghi, thì xung đột tại Trung Đông bùng nổ. Tại ĐBSCL, hệ lụy nghiêm trọng hơn khi chi phí logistics, vốn đã cao hơn từ 10-15% so với mặt bằng chung cả nước, nay lại bị đẩy lên cao trong bối cảnh giá năng lượng biến động. Cú sốc này không chỉ bào mòn lợi nhuận của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, mà còn thẩm thấu sâu vào các lĩnh vực sản xuất khác, tác động trực tiếp đến “nhóm yếu thế” trong chuỗi giá trị nông nghiệp của vùng, cụ thể là nông dân và các hợp tác xã.

Phần chìm đầy rủi ro, khó đo lường

Tác động trực tiếp từ giá xăng dầu lên vận tải và logistics là vấn đề dễ nhìn thấy nhất. Chính phủ đã có phản ứng kịp thời thông qua Quyết định 482/QĐ-TTg (ngày 26-3-2026) về việc cắt giảm thuế xăng dầu nhằm hạ nhiệt chi phí. Tuy nhiên, nếu ví đây là “phần nổi” của tảng băng, thì những hệ lụy gián tiếp chính là “phần chìm” đầy rủi ro mà chúng ta khó lòng đo lường hết.

Theo khảo sát của VCCI ĐBSCL đầu năm 2026, có đến 54% số doanh nghiệp xác định chi phí nguyên liệu đầu vào tăng cao (bao bì, vật tư, nguyên liệu thô...) là khó khăn lớn nhất, đồng thời là thách thức đáng lo nhất. Trong đó, chuỗi giá trị chế biến và xuất khẩu gạo - một trong những ngành hàng chủ lực của vùng - đang chịu tác động trực tiếp và đáng quan ngại trong dài hạn. Theo Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), trong hai tháng đầu năm 2026, dù sản lượng gạo xuất khẩu đạt 1,74 triệu tấn (tăng 2,3%), nhưng kim ngạch chỉ đạt 826,2 triệu đô la (giảm 8,7%), tương ứng với giá xuất khẩu bình quân sụt giảm tới 10,7% (còn 477,6 đô la/tấn). Câu hỏi đặt ra là biên lợi nhuận của người nông dân sẽ còn lại bao nhiêu, khi chi phí đầu vào, từ phân bón đến vận tải, bị đẩy lên theo đà tăng của giá dầu?

Càng đáng lo ngại hơn khi chúng ta nhìn vào sự phụ thuộc vào nguồn phân bón nhập khẩu. Dữ liệu từ Tổng cục Hải quan cho thấy, năm 2025 Việt Nam đã nhập khẩu khoảng 6,2 triệu tấn phân bón, với gần 50% nguồn cung từ Trung Quốc và Nga. Đáng chú ý, khu vực Trung Đông, Ấn Độ và UAE đang đóng vai trò “nút thắt” trong chuỗi cung ứng toàn cầu, bởi đây là tuyến huyết mạch cung ứng urê, ammonia và lưu huỳnh.

Sự mong manh của chuỗi cung ứng này đang chuyển hóa thành áp lực trực tiếp lên giá thành sản xuất. Nếu các báo cáo quốc tế ghi nhận mức tăng 30-35% giá phân bón trên thị trường toàn cầu do giá năng lượng biến động, thì tại thị trường ĐBSCL, thực tế còn khắc nghiệt hơn nhiều. Doanh nghiệp trong ngành ghi nhận giá phân urê nội địa đã tăng lên gấp đôi chỉ trong thời gian ngắn. Áp lực này không còn là biến số kinh tế vĩ mô xa vời, mà đã trở thành gánh nặng trực tiếp lên vai người nông dân, đe dọa biên lợi nhuận của toàn bộ chuỗi giá trị lúa gạo trong mùa vụ tới.

Hạn hán và xâm nhập mặn đã thành áp lực thường trực

ĐBSCL đang đối mặt với cao điểm mùa khô, nơi hạn hán và xâm nhập mặn đã trở thành áp lực thường trực. Dự báo nền nhiệt gia tăng đe dọa năng suất và tác động trực tiếp đến chất lượng nông sản - yếu tố sống còn quyết định vị thế của nông sản vùng trên bản đồ xuất khẩu quốc tế.

Sự hội tụ giữa các cú sốc ngoại biên (địa chính trị, chi phí logistics, giá phân bón) và những thách thức nội tại (biến đổi khí hậu) đã tạo nên những biến số “phi tuyến tính” đầy rủi ro. Khi sức chống chịu của cộng đồng doanh nghiệp, trong đó có tới 88% là doanh nghiệp siêu nhỏ(2), đã chạm ngưỡng giới hạn, hiệu ứng domino đang trực tiếp đe dọa sự tồn vong của doanh nghiệp nói chung và của chuỗi sản xuất và xuất khẩu nông sản toàn vùng nói riêng.

Như vậy, trước cục diện bất định với áp lực kép từ chi phí đầu vào leo thang và sự đứt gãy logistics, vấn đề đặt ra lúc này không chỉ là sự ứng biến, mà là tầm nhìn chiến lược. Đã đến lúc chúng ta cần thẳng thắn nhìn nhận những câu hỏi then chốt: Đâu là đòn bẩy chính sách đủ mạnh để vực dậy khu vực kinh tế nông nghiệp? Liệu mô hình kinh tế xanh, nông nghiệp bền vững có thực sự là “chiến lược cứu cánh” để vùng bứt phá trong bối cảnh hiện nay và sắp tới? Cộng đồng doanh nghiệp cần những kịch bản thích ứng, hành động cụ thể ra sao để tối ưu hóa giá trị gia tăng cho các mặt hàng chủ lực như lúa gạo, và giảm thiểu sự lệ thuộc vào nguồn vật tư nhập khẩu? Và quan trọng hơn cả, các cơ quan chức năng cần hành động quyết liệt như thế nào để đồng hành, tiếp sức cho doanh nghiệp vượt qua “phép thử” nghiệt ngã này, từ đó xác lập một lộ trình phát triển ổn định, hướng tới các mục tiêu tăng trưởng chất lượng cho toàn vùng?

Từ nghị quyết đến hiện thực: cần thu hẹp khoảng trống

Gần 10 năm qua, ĐBSCL đã bước vào quá trình chuyển dịch từ tư duy “chống chịu” sang “thuận thiên”. Những khung khổ chiến lược từ Nghị quyết 120/NQ-CP, Nghị quyết 13-NQ/TW đến các cơ chế chuẩn hóa nông nghiệp như Nghị định 109/2018/NĐ-CP đã trở thành những trụ cột vững chắc, đặt nền móng cho mục tiêu biến ĐBSCL thành trung tâm kinh tế sinh thái bền vững, nơi giá trị gia tăng được đặt cao hơn sản lượng thuần túy. Tuy nhiên, để những định hướng chiến lược này tác động tích cực đến đời sống kinh tế và tạo ra sức bật mới cho vùng, chúng ta cần một thước đo cụ thể như là sự phát triển của doanh nghiệp vùng cả về lượng và chất, sự chuyển dịch hiệu quả của cơ cấu kinh tế, thu nhập của người nông dân được nâng cao và ổn định…

Thực tế cho thấy, việc hiện thực hóa các nghị quyết vào đời sống là một hành trình đòi hỏi sự kiên trì, nhất quán và thống nhất từ tư duy đến hành động ở mọi cấp, mọi ngành.

Từ 2022, những cảnh báo về “Vòng xoáy đi xuống” trong Báo cáo Kinh tế Thường niên ĐBSCL năm 2022 (AMDER 2022) do VCCI phối hợp cùng trường Đại học Fulbright Việt Nam công bố, không chỉ là tín hiệu nhắc nhở, mà còn là động lực thôi thúc chúng ta phải nhìn nhận lại một cách sâu sắc các yếu tố đan xen giữa kinh tế, môi trường và xã hội đang tác động trực tiếp đến tiến trình chuyển đổi nông nghiệp của vùng.

Như vậy, nhìn lại hành trình năm năm qua, dù đã có những nỗ lực đáng ghi nhận, song “vòng xoáy đi xuống” trong cấu trúc kinh tế vùng vẫn đang là một thách thức lớn. Dưới áp lực cộng hưởng từ các cú sốc ngoại biên, vòng xoáy này dường như càng trở nên khó lường. Trong bối cảnh đó, cộng đồng doanh nghiệp ĐBSCL đã thể hiện bản lĩnh kiên cường khi không chỉ đơn thuần “tự bơi” giữa làn sóng cạnh tranh quốc tế, mà còn phải chủ động kiến tạo lộ trình thích ứng riêng. Tuy nhiên, hành trình mà này vẫn còn nhiều gian nan và thiếu bền vững khi các chủ trương chính sách dù đúng hướng nhưng vẫn chưa giải quyết được “bài toán thực tế” mà doanh nghiệp đang đối mặt.

(*) Phó giám đốc VCCI Đồng bằng sông Cửu Long

(1) Nguồn, số liệu do VCCI ĐBSCL tính toán từ GSO

(2) Theo tính toán của tác giả bài viết về quy mô doanh nghiệp theo lao động; nguồn số liệu từ VCCI ĐBSCL tổng hợp

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

Tin liên quan

Có thể bạn quan tâm

Tin mới