Lao động Trung Quốc và kinh tế thế giới
Thái Bình
![]() |
| Công nhân Trung Quốc tại nhà máy của tập đoàn Honda đình công đòi tăng lương. |
(TBKTSG) - Nguồn lao động giá rẻ không chỉ tạo nên phép lạ của kinh tế Trung Quốc mà ảnh hưởng đến giá cả hàng hóa trên khắp thế giới. Sau những cuộc đình công đòi tăng lương trong thời gian gần đây, chi phí sản xuất ở Trung Quốc không còn thấp nữa; điều đó sẽ có những hệ quả như thế nào đối với kinh tế toàn cầu?
Công nhân Trung Quốc hưởng lương rất thấp so với đồng nghiệp ở các nước phát triển. Theo báo Economist, năm ngoái bình quân mỗi người trong số 130 triệu công nhân di cư của nước này nhận được 1.346 nhân dân tệ mỗi tháng, tăng 17% so với năm trước nhưng chỉ mới bằng 5% mức lương tháng trung bình ở Mỹ. Kinh tế Trung Quốc tăng trưởng mạnh, năng suất lao động được cải thiện nhưng tiền lương của công nhân không tăng theo tốc độ tương ứng. Theo nghiên cứu của các nhà kinh tế học Trung Quốc lẫn phương Tây, trong thập niên 1995-2005, năng suất của công nhân Trung Quốc tăng gấp năm lần nhưng thu nhập chỉ tăng gấp ba. Hậu quả của tình trạng này là đất nước Trung Quốc giàu lên nhanh nhưng sức mua của người dân không lên theo kịp; tỷ trọng của tiêu dùng trong GDP giảm từ 61% năm 1990 xuống còn 53% năm 2007 (xem bảng 1).
Nhưng tình hình đã thay đổi trong mấy năm gần đây. Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã đẩy khoảng 25 triệu công nhân di cư ra khỏi các đô thị công nghiệp miền duyên hải Trung Quốc khiến các doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc tuyển dụng khi sản xuất phục hồi sau khủng hoảng. Không chỉ khan hiếm, công nhân Trung Quốc đòi hỏi nhiều quyền lợi hơn trước, phần lớn không chịu làm lụng cật lực trong những môi trường khắc nghiệt để nhận đồng lương ít ỏi như lớp cha anh họ. Bộ luật lao động mới có hiệu lực từ tháng 1-2008 tiếp thêm sức mạnh pháp lý cho công nhân… Đây là các nguyên nhân làm cho tranh chấp lao động xảy ra ngày càng nhiều, càng quyết liệt trong thời gian gần đây.
![]() |
Đặc điểm của tranh chấp lao động hiện nay ở Trung Quốc là xảy ra với tần số ngày càng dày đặc, chẳng hạn trong 48 ngày từ 25-5 đến 12-7 tại tỉnh Quảng Đông đã có 36 cuộc đình công lớn; đình công kéo dài hơn, tập trung chủ yếu ở các doanh nghiệp có vốn nước ngoài và thường dẫn tới kết quả là yêu sách đòi tăng lương của công nhân được giới chủ đáp ứng, cá biệt có trường hợp tiền lương được điều chỉnh tăng tới 47% như vụ đình công ngày 22-6 vừa qua ở Nhà máy Atsumitec chuyên sản xuất hộp số cho hãng xe Honda ở thành phố Phật Sơn, tỉnh Quảng Đông.
Thái độ của chính quyền Trung Quốc đối với các vụ tranh chấp giữa người lao động với giới chủ nước ngoài cũng đã thay đổi, từ trấn áp chuyển sang ủng hộ công nhân. Theo giới phân tích, hiện nay chính quyền Trung Quốc không ngại gây rắc rối cho nhà đầu tư nước ngoài bởi vì họ biết rằng, trong cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, nhà đầu tư nước ngoài cần Trung Quốc hơn là Trung Quốc cần họ. Và yêu sách đòi tăng lương của người lao động cũng phù hợp với mục tiêu mà chính quyền “tuyên bố” là cân bằng nền kinh tế, giảm đầu tư, tăng tiêu thụ.
Theo UNCTAD (Hội nghị Liên hiệp quốc về thương mại và phát triển), các nhà đầu tư nước ngoài đã đổ vào Trung Quốc khoảng 500 tỉ đô la Mỹ, sử dụng khoảng 16 triệu lao động và trong một thập niên qua kể từ ngày Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới, sự kết hợp vốn nước ngoài và lao động bản xứ này đã chi phối mạnh ngành công nghiệp toàn cầu. Trong 200 nhà xuất khẩu hàng đầu của Trung Quốc trong năm ngoái có tới 153 doanh nghiệp có vốn nước ngoài.
Nhưng hiện nay, với nhà đầu tư nước ngoài, Trung Quốc không còn là nguồn lao động giá rẻ nữa, ít ra là so với các nước láng giềng - chi phí sản xuất ở đây đã ngang với Philippines và Thái Lan. Từ đó, nhiều nhà phân tích dự báo rằng, sự gia tăng chi phí lao động ở Trung Quốc sẽ kích thích một làn sóng di dời các nhà máy từ miền duyên hải nước này sang các nước láng giềng - nơi có giá nhân công chỉ bằng một phần ba so với Trung Quốc. Thực tế cho thấy điều đó đã không xảy ra.
Tại các nước lân cận như Việt Nam, Indonesia, chi phí lao động cũng đang tăng lên nhanh và cơ sở hạ tầng thì yếu kém hơn miền Hoa Nam Trung Quốc. Cho nên, thay vì chuyển nhà máy sang Đông Nam Á, nhiều công ty đã chọn điểm đến là vùng nội địa Trung Quốc, nơi giá đất đai và lao động còn rẻ, nhiều ưu đãi của chính quyền địa phương có thể bù đắp cho chi phí vận tải nguyên liệu và sản phẩm ra các hải cảng miền ven biển.
![]() |
Một số nghiên cứu cho thấy vùng nông thôn Trung Quốc vẫn còn khoảng 70 triệu lao động dư thừa, không muốn di cư ra vùng duyên hải nhưng sẵn sàng làm việc với mức lương thấp trong những cơ sở sản xuất gần nhà. Chương trình “Khai phá miền Tây” mà Chính phủ Trung Quốc tiến hành trong 10 năm qua đã đầu tư rất nhiều vào việc xây dựng hạ tầng cơ sở ở các tỉnh nằm sâu trong nội địa phía Tây Trung Quốc, làm gia tăng sức hút đầu tư của các địa phương này.
Vì thế, làn sóng di dời nhà máy khỏi vùng duyên hải Trung Quốc là có thật, nhưng hướng di chuyển là đi sâu vào nội địa Trung Quốc. Tỉnh An Huy chẳng hạn - một tỉnh có 62 triệu người, bằng ba phần tư dân số Việt Nam, cách Thượng Hải vài trăm cây số nhưng cùng nằm trên bờ sông Dương Tử, năm ngoái đã thu hút đến 3,8 tỉ đô la Mỹ vốn đầu tư nước ngoài. Trong những doanh nghiệp hoạt động ở đây có những thương hiệu tầm cỡ như Chery Auto, Unilever - tập đoàn đa quốc gia sản xuất hóa mỹ phẩm, vừa tăng vốn đầu tư vào An Huy thêm 103 triệu đô la Mỹ… Trùng Khánh cũng là một điểm đến nổi bật. Cách Thượng Hải 2.500 cây số, nơi sông Dương Tử gặp sông Gia Linh, thành phố 28 triệu dân này là trung tâm sản xuất công nghiệp cung ứng cho thị trường nội địa Trung Quốc và được coi là cửa ngõ vào miền tây Trung Quốc mênh mông. Trong năm qua, GDP của Trùng Khánh tăng đến 19%, dẫn đầu Trung Quốc. Và Trùng Khánh cũng là nơi tập đoàn máy tính hàng đầu thế giới Hewlett-Packard (HP) có 10 dây chuyền sản xuất máy tính xách tay hay tập đoàn xe hơi Chrysler cạnh tranh sản xuất với hãng xe hơi Tràng An của Trung Quốc… (xem bảng 2).
Đối với thị trường thế giới, sự gia tăng chi phí lao động mang lại những tác động trái ngược nhau. Thời kỳ “hàng Trung Quốc giá rẻ” có thể đã trôi qua và điều đó có nghĩa là người tiêu dùng phải trả nhiều tiền hơn để có được những vật phẩm quen thuộc. Các nhà phân tích dự tính, làn sóng hàng hóa Trung Quốc đã giúp các hộ gia đình Mỹ tiết kiệm mỗi năm 1.000 đô la Mỹ nhờ mua hàng giá rẻ, doanh nghiệp mua nguyên liệu giá rẻ và sự cạnh tranh đẩy giá bán xuống thấp. Theo số liệu thống kê, từ năm 1997-2005, giá hàng Trung Quốc nhập vào Mỹ giảm bình quân 12% sau đó tăng trở lại, từ năm 2004 đến nay đã tăng hơn 6% và dự báo sẽ tăng nhanh trong thời gian tới khi chi phí sản xuất ở Trung Quốc tăng cao.
Theo các nhà kinh tế, việc hàng xuất khẩu Trung Quốc tăng giá có thể làm cho lạm phát ở các nước phương Tây tăng theo, nhưng đó không phải là mối lo chính của các nền kinh tế phát triển hiện đang đối mặt với nguy cơ thiểu phát. Về lâu dài, xu thế tăng giá hàng Trung Quốc có thể là điều tốt cho thị trường thế giới. Báo Economist nhận định, trong thời kỳ hậu suy thoái hiện nay, cái mà thế giới cần không phải là đội ngũ công nhân lành nghề mà là đội ngũ người tiêu dùng khôn ngoan. Nếu thu nhập của người dân Trung Quốc được cải thiện, sức mua tăng lên, sẽ có thêm thị trường cho hàng hóa xuất khẩu của các nước khác nếu biết tận dụng cơ hội và có đối sách thích hợp. Một nghiên cứu ở Mỹ cho thấy, khi sức mua của người Trung Quốc tăng thêm 20% thì kim ngạch xuất khẩu của Mỹ sẽ tăng thêm 25 tỉ đô la và sẽ có thêm 200.000 việc làm mới được tạo ra cho người Mỹ. Các nền kinh tế khác cũng có thể nhận được hiệu ứng như vậy.
Trong một kịch bản lạc quan, người ta cho rằng, sự gia tăng chi phí lao động ở Trung Quốc hiện nay là bước mở đầu cho tiến trình tái cân bằng kinh tế thế giới, trong đó người lao động Trung Quốc sẽ được đãi ngộ tốt hơn, sức mua của thị trường đông dân nhất thế giới này sẽ tăng mạnh và nhờ đó người lao động ở các nền kinh tế khác có thêm việc làm; kinh tế Trung Quốc sẽ bớt thặng dư thương mại và các nước khác cũng bớt nhập siêu từ Trung Quốc. Tuy nhiên, cũng có quan điểm cho rằng, không nên lạc quan quá sớm vì Trung Quốc tuy đông dân nhưng mãi lực không cao, chỉ bằng 13% so với thị trường Mỹ, thị trường được chính quyền bảo hộ nghiêm ngặt cùng với đồng nhân dân tệ bị định giá thấp khiến cho hàng hóa nước ngoài khó mà thâm nhập được. Nếu sức mua của người dân tăng thì điều đó có lợi cho doanh nghiệp Trung Quốc hơn là cho hàng hóa nước ngoài.
Vì thế, những cuộc đình công của công nhân Trung Quốc chưa hẳn là điều đáng mong đợi.









