Chủ Nhật, 29/01/2023, 23:51
24 C
Ho Chi Minh City

Đặt báo in

Thông tin quảng cáo

Thông tin quảng cáo


Lịch sử,  niềm tin và sự thật

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

Lịch sử,  niềm tin và sự thật

(TBKTSG) – Hội thảo về chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 19, với gần 100 bài tham luận của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, phải được xem là một trong những sự kiện khoa học lớn nhất năm 2008 của Việt Nam.

Hội thảo được tổ chức tại Thanh Hóa trong các ngày 18 và 19-10-2008, nhân dịp 450 năm chúa Nguyễn Hoàng vào xứ Thanh “mở cõi phương Nam”.

Không chỉ lớn nhất mà còn là quan trọng, ít nhất là trong lĩnh vực sử học của Việt Nam, vì cuộc hội thảo này được xem như một nỗ lực để, như Giáo sư Phan Huy Lê phát biểu trong bài đề dẫn hội thảo, “cùng nhau nhìn nhận và đánh giá một cách công bằng đối với vai trò và cống hiến của các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam”(1).

Cuộc hội thảo đã gợi lại một khuynh hướng tạm gọi là thực dụng từng ngự trị trong ngành sử học và được phản ánh một cách rộng rãi qua việc phê phán một cách gay gắt các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trên các tạp chí chuyên ngành, trong một số bộ sử, và nhất là trong sách giáo khoa đại học và phổ thông ở miền Bắc trong những năm tháng tiến hành cuộc chiến tranh giành độc lập dân tộc và thống nhất quốc gia. Tuy nhiên, cuộc hội thảo cũng đã cho biết từ sau cuộc đổi mới khởi đầu từ năm 1986, nhiều cuộc hội thảo khoa học, đặc biệt trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, được tổ chức trong phạm vi cả nước, đã dẫn đến một sự đồng thuận cao giữa các nhà khoa học trong việc khẳng định, bên cạnh những thành tựu và cống hiến của ngành sử học trong sự nghiệp chung của dân tộc, những hạn chế, yếu kém của ngành khoa học này, đặc biệt, khuynh hướng giáo điều công thức trong vận dụng các nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, khuynh hướng “chính trị hóa lịch sử, dùng lịch sử để minh họa một số quan điểm chính trị có sẵn…”(2). Khuynh hướng này như vậy đã bị liệt vào số những yếu kém của ngành sử học và cuộc hội thảo lần này, do đó, có thể được xem như sự tiếp nối việc đổi mới không thể thiếu, không chỉ trong việc nhìn lại một thời kỳ, triều đại – thời chúa Nguyễn và nhà Nguyễn – mà trong sử học nói chung, để sử học có thể trở về với  chính mình và phục vụ xã hội với tính cách là sử học.

Nỗ lực đổi mới của sử học Việt Nam

Thực vậy, trong hai thập niên gần đây, chúng ta đã được chứng kiến nhiều nỗ lực nhìn lại lịch sử, “đánh giá lại” một số nhân vật lịch sử từng bị lên án một cách gắt gao trong những hoàn cảnh chính trị tương tự.

Tiêu biểu nhất có lẽ là trường hợp Phan Thanh Giản, một quan lại trong triều đình nhà Nguyễn, đã sống trong những giờ phút đen tối nhất của lịch sử Việt Nam hiện đại, người đã giao ba tỉnh miền Tây cho Pháp rồi uống thuốc độc tự tử. Ba cuộc hội thảo diễn ra vào ba thời kỳ lịch sử khác nhau về Phan Thanh Giản đã “minh họa” cho tiến trình đổi mới cái nhìn về nhân vật nổi cộm của triều Nguyễn này. Tại cuộc hội thảo lần thứ nhất, tổ chức vào năm 1963, tại Hà Nội, khi Mỹ bắt đầu ném bom miền Bắc Việt Nam, Phan Thanh Giản bị dựng dậy, bị lôi ra xử “để bản án dành cho kẻ đầu hàng giặc hôm qua, cũng sẽ là bản án dành cho mọi hành động khuất phục trước sức mạnh vật chất của kẻ xâm lược hôm nay: năm 1867 là giặc Pháp, và bây giờ là giặc Mỹ”(3).

Tại cuộc hội thảo lần hai tại Vĩnh Long, vào năm 1994, gần mười năm sau cuộc đổi mới, Phan Thanh Giản bắt đầu được nhìn với con mắt khoan dung hơn, “bớt khắt khe và gần với sự công bằng hơn”. Và tại cuộc hội thảo lần ba, chính xác hơn, tại cuộc tọa đàm khoa học tổ chức tại TPHCM năm 2003, những đánh giá về Phan Thanh Giản của cuộc hội thảo trước được tái xác nhận với một sự đồng thuận cao.  Tiến trình đổi mới trong cách nhìn đối với một trường hợp lịch sử cụ thể này khiến không ít người hài lòng vì cảm thấy mình bắt đầu được tiếp xúc với lịch sử, chứ không phải một bài học đạo đức được viết theo kiểu như được giới thiệu trong lời nói đầu của sách Đại Việt sử ký tục biên: “Sự ghi chép của sử giữ nghị luận rất nghiêm, tô điểm việc trí trị thì sáng tỏ ngang với mặt trời mặt trăng; răn đe kẻ loạn tặc thì ráo riết như sương thu lạnh buốt, người thiện biết có thể bắt chước, người ác biết có thể tự răn, quan hệ với chính trị không phải là ít. Cho nên mới làm ra quốc sử”(4).

Qua các bài tham luận của các nhà sử học dành cho hội thảo khoa học về các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn lần này, người ta thấy xuất hiện một số mảng sáng làm bức họa về thời kỳ lịch sử này bớt đi phần nào cái vẻ đen tối ảm đạm đã trở thành quen thuộc. Đúng là thời đại lịch sử này đã có những mảng tối không thể chối cãi, nhưng phủ nhận các công trạng của các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn quả cũng không công bằng. Những cống hiến của các chúa Nguyễn trong thời gian kéo dài hơn hai trăm năm kể từ ngày Nguyễn Hoàng đi nhậm chức Trấn thủ xứ Thuận Hóa đến ngày Nguyễn Ánh, vị chúa cuối cùng và nhà vua đầu tiên của dòng họ Nguyễn, thiết lập vương triều năm 1802, kế đó của vương triều Nguyễn quả không phải nhỏ.

Những công trạng được nhắc đến

Thời các chúa Nguyễn

Các chúa Nguyễn đã góp phần không nhỏ trong việc phát triển nền thương mại và mở rộng lãnh thổ của Việt Nam. Dưới quyền cai trị và với những chính sách khôn khéo của các chúa Nguyễn, cảng Hội An quả đã là một cánh cửa mở ra trước năm châu bốn biển, nơi gặp gỡ và trao đổi, hàng hóa và văn hóa, giữa các thương gia người Hoa, người Nhật, người Đông Nam Á, người châu Âu. Từ vị trí không mấy được biết đến, chỉ trong một thời gian ngắn, qua cảng Hội An này, Đàng Trong của các chúa Nguyễn đã được đặt ở đầu danh sách các nước ở lục địa Đông Nam châu Á có quan hệ thương mại với Nhật Bản(5). Hội An ngày nay còn là một điểm thu hút khách du lịch từ các nước trên thế giới không phải vì cảnh đẹp thiên nhiên mà như chứng tích của một nơi giao lưu văn hóa đầy năng động. Bên cạnh Hội An, còn có thể kể các cảng thị khác nằm nối tiếp nhau từ Thừa Thiên-Huế đến Bình Định, Phú Yên, Gia Định, Đồng Nai, Mỹ Tho, tới tận Hà Tiên.

Một đồng bằng sông Cửu Long, với gần hai chục ngàn cây số vuông, lớn hơn cả châu thổ sông Hồng, đã lần lượt trở thành lãnh thổ của Việt Nam dưới thời các chúa Nguyễn qua một chính sách biết lợi dụng thời thế để mở rộng bờ cõi, tiếp tục cuộc Nam tiến kéo dài cả ngàn năm của dân tộc: Năm 1698, phủ Gia Định của vương quốc họ Nguyễn được thành lập từ đất Nông Nại. Năm 1756, Nặc Nguyên dâng chúa Nguyễn hai phủ Lôi Lạp và Tầm Bôn để cầu hòa sau khi đã liên minh với chúa Trịnh và quân Xiêm gây hấn với chúa Nguyễn. Năm 1757, Nặc Tôn, con của Nặc Nguyên, xin dâng đất Tầm Phong Lan để được sự bảo vệ của chúa Nguyễn. Cũng trong năm này, chú của Nặc Nguyên là Nặc Nhuận xin hiến đất Trà Vinh và Ba Thắc cho Võ Vương để được làm vua Chân Lạp. Vùng Tây Nam bộ của Việt Nam được họ Nguyễn chia thành bốn dinh và một trấn. Bốn dinh này là các dinh Trấn Biên (Biên Hòa), Phiên Trấn (Gia Định), Long Hồ (Vĩnh Long, An Giang) và Trường Đồn (Mỹ Tho) và một trấn là trấn Hà Tiên. Đồng bằng sông Cửu Long càng ngày càng trở thành một bộ phận không thể thiếu về mọi mặt của Việt Nam hiện nay.

Thời vương triều Nguyễn

Công trạng thống nhất quốc gia sau cuộc phân tranh Trịnh – Nguyễn trước đây vẫn được dành cho nhà Tây Sơn nay đã được trả lại cho họ Nguyễn. Kể cũng không công bằng và không đúng với sự thật khi từ chối công trạng này đối với chúa Nguyễn Ánh, với tính cách chúa Nguyễn đã đánh bại nhà Tây Sơn, và vua Gia Long, với tính cách người đã thiết lập vương triều Nguyễn trên một nước Việt Nam trải dài liên tục từ biên giới Trung Quốc tới tận vịnh Thái Lan. Nhà Nguyễn đã không chỉ thống nhất quốc gia mà còn củng cố sự thống nhất này bằng con đường Cái quan xuyên Việt dài gần 2.000 cây số, từ biên giới Trung Quốc tới Sài Gòn, nối các trung tâm lớn từ Bắc tới Nam với kinh đô Huế. Nền cai trị của nhà Nguyễn cũng có thể sánh với các triều đại khác trong lịch sử: “Trong lịch sử chế độ quân chủ Việt Nam, cải cách của vua Minh Mệnh năm 1831-1832 và vua Lê Thánh Tông năm 1471 là hai cải cách hành chính có quy mô toàn quốc và đạt hiệu quả cao nhất”(6). Đồng bằng sông Cửu Long tiếp tục phát huy giá trị của nó với những kênh

đào phục vụ giao thông chuyên chở, khẩn hoang và định cư, việc biên phòng… dưới thời các vua nhà Nguyễn. Di sản văn hóa thời kỳ các chúa Nguyễn và nhà Nguyễn để lại được đánh giá là đồ sộ. Không ít những di sản văn hóa này được nhìn nhận là di sản văn hóa thế giới hay của nhân loại như quần thể di tích cố đô Huế (1993), khu di tích phố cổ Hội An (1999), Nhã nhạc cung đình (2003).

Giáo sư Phan Huy Lê, sau khi nêu lên di sản văn hóa

đồ sộ của thời kỳ các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn, đã kết luận: “Các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn đã đi vào lịch sử, nhưng di sản văn hóa mà thời kỳ lịch sử đó đã tạo dựng nên, kết tinh những giá trị lịch sử và văn hóa của dân tộc, thì mãi mãi trường tồn cùng non sông đất nước. Đó là bộ phận quan trọng của di sản văn hóa dân tộc luôn luôn giữ vai trò động lực tinh thần nội tại của công cuộc phục hưng dân tộc, của sự phát triển bền vững của đất nước, nhất là trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập của đất nước hiện nay”(7).

Sự thật lịch sử

Thực thì người đời nay đọc lịch sử không chờ đợi nhân vật này hay triều đại nọ được đề cao hay bị lên án, hay để tìm kiếm những bài học đạo đức có sẵn mà trước tiên muốn tiếp cận sự thật vì biết rằng mọi xây dựng hiện tại, mọi bài học lịch sử chỉ vững chắc và tồn tại một cách bền vững khi được xây dựng và dựa trên sự thật. Vẫn biết rằng không phải lúc nào các nhà chép sử cũng dễ dàng thực hiện nhiệm vụ của mình theo hai nguyên tắc Cicero cách đây mấy ngàn năm đã đề ra là không dám nói cái giả mạo và dám nói tất cả những gì là sự thật. Và cũng đúng là kẻ dám nói sự thật quả thời nào cũng hiếm. Khổng Tử đã phải có lời khen Sử Ngư, người chép sử nước Vệ thời Xuân Thu, vì ông đã chép một cách thẳng thắn và trung thực. Cũng liên quan tới nhà chép sử này, Nguyễn Trãi đã để lại hai câu thơ: “Ai ai đều đã bằng câu hết. Nước chẳng còn có Sử Ngư!”. Trích lại hai câu thơ này của Nguyễn Trãi, Giáo sư Hà Văn Tấn, chẳng mấy xa lạ với ngành sử học Việt Nam và thế giới, đã phải thốt lên: “Cho đến hôm nay, đọc câu thơ Nguyễn Trãi, chúng ta vẫn như tê tái với nỗi đau của ông, làm sao có thể sống nổi trong một xã hội mà mọi sự thật đều bị che đậy hay bị xuyên tạc. Trong những thời kỳ như vậy, người chép sử, nhà sử học, những người có nhiệm vụ nói lên sự thật, không biết bị dằn vặt thế nào?”(8).

 *

*     *

Sự thật quả là cái khó nói, khó chép. Nhưng sự thật lại cũng là cái con người từ ngàn đời qua đều cần để tin, đều khao khát và mong mỏi đạt tới như hy vọng của đời người. Cuộc hội thảo về thời các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử, như một lời kêu gọi các nhà sử học và những người có nhiệm vụ nói lên sự thật tiếp tục con đường đổi mới để tiếp cận sự thật và chỉ sự thật, để nói lên sự thật và chỉ sự thật, có thể được xem như một tín hiệu vui, tạo cho người đời nay một chút niềm tin trước hết đối với ngành sử học của Việt Nam và với nhiệm vụ nói lên sự thật nói chung. Ai cũng biết niềm tin không dựa trên sự thật là niềm tin hão.

NUYỄN NGHỊ

(1) Phan Huy Lê, trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX, Nhà xuất bản Thế giới, 2008, tr. 16. (2) Sđd., tr. 14. (3) Nguyễn Nghị và Nguyễn Hạnh, trong Thế kỷ XXI nhìn về nhân vật lịch sử Phan Thanh Giản, VHSG, 2006, tr. 223. (4) Trích dẫn theo Hà Văn Tấn trong Lịch sử, sự thật và sử học, tạp chí Xưa và Nay và Nhà xuất bản Trẻ, TPHCM 1999, tr. 14. (5) Xem Li Tana, Xứ Đàng Trong, Nhà xuất bản Trẻ, 1999, tr. 85. (6) Phan Huy Lê, sđd., tr. 19. (7) Phan Huy Lê, sđd., tr. 23. (8) Hà Văn Tấn, sđd., tr. 13.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

Tin liên quan

Có thể bạn quan tâm

Tin mới