Thứ Ba, 30/11/2021, 04:49
25 C
Ho Chi Minh City

Đặt báo in

Thông tin quảng cáo

Thông tin quảng cáo

Ngăn mực nước biển dâng tại TPHCM sẽ cần tới 52% GDP của năm 2050

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

Ngăn mực nước biển dâng tại TPHCM sẽ cần tới 52% GDP của năm 2050

Trang Nguyễn

(TBKTSG Online) – Sau Covid-19, biến đổi khí hậu sẽ trở thành cuộc khủng hoảng tiếp theo của châu Á khi các thành phố lớn phải đối mặt với hiện tượng nước biển dâng cao. Thành phố Hồ Chí Minh sẽ là một trong số đó và theo ước tính của Ngân hàng HSBC, một kế hoạch bảo vệ xây dựng đê và tường chắn biển cho thành phố có thể tiêu tốn tới 52% GDP của Việt Nam tới năm 2050.

Báo cáo có tựa Khắc phục khủng hoảng kế tiếp tại châu Á: Biến đổi khí hậu do Khối Nghiên cứu Kinh tế của ngân hàng HSBC mới đây đã chỉ ra hiện trạng gần 45% diện tích TPHCM chỉ còn cách mực nước biển chưa đến một mét. Ngoài ra, theo hãng nghiên cứu McKinsey Global Institute, 154 trong số 322 phường xã tại TPHCM thường diễn ra hiện tượng ngập lụt thường xuyên. Điều này có ý nghĩa nghiêm trọng đối với Việt Nam khi TPHCM đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế với 9 triệu cư dân và đóng góp vào GDP cả nước đến 26% trong năm 2019.

Ngăn mực nước biển dâng tại TPHCM sẽ cần tới 52% GDP của năm 2050
Một con hẻm trong tình trạng ngập nước tại TPHCM. Ảnh: HSBC

Một kế hoạch bảo vệ toàn diện thành phố, trong đó bao gồm việc xây dựng đê và tường chắn biển, theo ước tính của HSBC, có thể làm tiêu tốn tới 52% GDP năm 2050 của Việt Nam. Đây sẽ là mức chi phí trên tổng GDP năm 2050 để bảo vệ ngăn nước biển dâng đắt đỏ nhất trong khu vực nếu so với các thành phố lớn khác như Bangkok, Mumbai, Manila…

Theo báo cáo nói trên, đối với các nước châu Á, tình trạng biến đổi khí hậu đang ngày càng được khẳng định là cuộc khủng hoảng thế kỷ của cả khu vực chứ không phải đại dịch Covid-19. Các thành phố đang bị hiện tượng nước biển dâng cao đe dọa trong khi vấn đề thời tiết thất thường đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình an ninh lương thực.

Nhưng châu Á không chỉ là nạn nhân của biến đổi khí hậu: khu vực này hiện chiếm tới 87% sự gia tăng khí nhà kính toàn cầu kể từ năm 1990 và mức phát thải CO2 đang tăng 78%.

Một số nền kinh tế trong khu vực bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi tình trạng biến đổi khí hậu, trong đó các nước Ấn Độ, Indonesia và Philippines đã phải đối mặt với những thách thức to lớn trong việc giảm nghèo và cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe, giáo dục, thực phẩm an toàn và nước uống.

Mực nước biển dâng cao đang gây ảnh hưởng đến các thành phố châu Á, có khả năng làm giảm GDP của các nước Trung Quốc, Ấn Độ và Indonesia mỗi năm thêm khoảng 0,2-0,9% trong những thập kỷ tới. Theo NASA, mực nước biển đã tăng tổng cộng 6,5cm từ năm 1993 đến năm 2014 khi băng ở hai cực tan chảy và do nước ấm thêm. Theo dự báo, mực nước biển còn có thể tăng lên 65cm vào năm 2100. Châu Á có 15 trong số 20 thành phố dễ bị mực nước biển dâng trên toàn thế giới tác động nhất.

Theo Ngân hàng Thế giới, sẽ có khoảng 37 triệu người ở Đông Á và Đông Nam Á – chiếm 2% dân số – sẽ bị ảnh hưởng bởi mực nước biển dâng cao lên thêm một mét. Mức tăng năm mét sẽ tác động đến 162 triệu người và GDP sẽ giảm 9%.

Sự biến đổi khí hậu cũng đã làm tăng tần suất và mức độ khắc nghiệt của thời tiết như lũ lụt, bão, hạn hán và gió mùa. Điều đó gây nguy hiểm cho an ninh lương thực lâu dài ở Ấn Độ, Trung Quốc và Đông Nam Á và từ đây châm ngòi cho tình trạng lạm phát.

Tuy nhiên, chính các quốc gia tại châu Á là một tác nhân gây ra vấn đề khí hậu. Riêng Trung Quốc đã chiếm 60% sự gia tăng khí nhà kính trên toàn cầu kể từ năm 1990.

Phá rừng là nguyên nhân góp phần tạo ra lượng khí thải lớn ở Đông Nam Á khi đô thị hóa gia tăng và đất đai được chuyển sang khai thác trồng trọt, đặc biệt là các sản phẩm phổ biến như dầu cọ.

Sản xuất năng lượng chiếm 75% lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính toàn cầu và than đá đang được sử dụng để tạo ra 61% điện năng của toàn châu Á. Theo như các kế hoạch trước đây, việc các quốc gia đang sử dụng than ngày càng nhiều thêm, bất chấp các lựa chọn tái tạo có chi phí thấp khác và 75% công suất phát điện mới ở các quốc gia ASEAN sẽ dựa trên than.

Giải quyết được hiện trạng sản xuất năng lượng nặng phát thải là rất quan trọng để thế giới tiến gần hơn đến mục tiêu của Thỏa thuận Paris là hạn chế sự gia tăng nhiệt độ toàn cầu lên 1,5°C.

Tất cả các nền kinh tế châu Á đã cam kết một số hình thức giảm phát thải nhưng không phải tất cả đều đạt được mục tiêu của mình. Trong khi tốc độ tăng phát thải đã giảm xuống kể từ khi thỏa thuận khí hậu được ký kết vào năm 2015, vẫn còn có các ngoại lệ bao gồm ba trong số các nền kinh tế phát triển nhanh nhất châu Á – Việt Nam, Bangladesh và Ấn Độ.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

Có thể bạn quan tâm

Tin mới