Thứ Năm, 4/06/2026
24.5 C
Ho Chi Minh City
Html code here! Replace this with any non empty raw html code and that's it.
Trang chủ Blog Trang 16068

Trung Quốc có thể "ngáng đường" Microsoft

0
Trung Quốc có thể

Trung Quốc có thể "ngáng đường" Microsoft

Yahoo đang nắm giữ 39% cổ phần trang thương mại điện tử Alibaba của Trung Quốc -Ảnh: AFP

(TBKTSG Online) - Nỗ lực thâu tóm Yahoo của Microsoft có thể phải đối mặt với một thử thách từ Trung Quốc ngay sau khi Luật chống độc quyền của nước này có hiệu lực vào đầu tháng 8 này.

Theo các chuyên gia pháp lý, bộ luật mới sẽ mang lại cho Trung Quốc vị thế là một tầm ảnh hưởng pháp lý thứ ba của thế giới, bên cạnh Liên minh châu Âu và Mỹ.

Được Quốc hội Trung Quốc chính thức ban hành hồi năm ngoái, bộ luật này mang lại cho các nhà lập pháp Trung Quốc thẩm quyền xem xét các vụ sáp nhập nước ngoài có dính líu đến các công ty Trung Quốc hay các doanh nghiệp nước ngoài tham gia đầu tư vào các công ty Trung Quốc. Ngoài ra, theo thông tin đăng tải trên Tân hoa xã, Bắc Kinh có thể xem xét những vấn đề được coi là liên quan đến an ninh quốc gia.

Vào tháng 8-2005, Yahoo đã đầu tư 1 tỉ đô la Mỹ vào Alibaba.com, trang thương mại điện tử lớn nhất của Trung Quốc, nắm giữ 39% cổ phần của công ty này. Do đó, chiếu theo luật mới thì Trung Quốc hoàn toàn có thể can thiệp vào thương vụ giữa Microsoft và Yahoo.

Theo tờ Wall Street Journal, Công ty Alibaba đang bàn thảo với các nhà đầu tư mua lại 39% cổ phần của Yahoo để bảo đảm vị thế độc lập của mình khi xảy ra vụ sát nhập.

“Các tập đoàn đa quốc gia luôn cần phát triển các chiến lược trên tất cả thị trường mà họ có thể và Trung Quốc là một thị trường lớn”, ông Nathan Bush, một chuyên gia về luật chống độc quyền thuộc O'Melveny & Myers ở Bắc Kinh, nhận xét.

Theo các nhà làm luật, có hàng tá điều khoản cho phép áp đặt quyền ảnh hưởng vào một vụ sát nhập như Microsoft và Yahoo bởi khoản lợi nhuận toàn cầu của 2 công ty khổng lồ này và bởi thỏa thuận này có thể chuyển đổi Internet thành 2 cổng truyền lớn là Google và Microsoft.

Ngay cả khi Chính phủ Trung Quốc không muốn ngăn cản việc Microsoft mua lại Yahoo, thì quá trình xem xét kéo dài cũng có thể gây thiệt hại đáng kể cho thương vụ này, một số giám đốc trong lĩnh vực Internet nhận định.

Sau khi từ chối lời đề nghị của Microsoft hồi tháng 1-2008, Giám đốc điều hành của Yahoo, ông Jerry Yang đã giải thích với các nhân viên của mình rằng, mức giá Microsoft đưa ra là không xứng đáng với giá trị của công ty, một phần vì hoạt động kinh doanh Alibaba.com ở Trung Quốc có tiềm năng tăng trưởng mạnh mẽ.

Mới đây, kế hoạch đầu tư của Tập đoàn công nghệ Huawei (Trung quốc) vào Tập đoàn 3Com (Mỹ) đã thất bại do vấp phải những lo ngại về an ninh quốc gia từ phía Washington.

Hiện Trung Quốc có đến 230 triệu người truy cập Internet, lĩnh vực Internet chiếm 7% GDP và sẽ tăng đến 15% GDP trong 3-4 năm nữa.

MỸ HẠNH (Theo IHT)

Vụ chuyển nhượng ngân hàng Bear Stearns: Rắc rối kéo dài

0
Vụ chuyển nhượng ngân hàng Bear Stearns: Rắc rối kéo dài

Vụ chuyển nhượng ngân hàng Bear Stearns: Rắc rối kéo dài

Một ngân hàng đầu tư nổi tiếng song giá trị cổ phiếu chỉ còn 2 đô la.

(TBKTSG Online) - Theo nhận định của ông Christopher Cox, Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Mỹ, sự sụp đôt của Ngân hàng đầu tư Bear Stearns Cos. (BSC) không phải do thiếu tiền mà do thiếu lòng tin.

1. Tối Chủ nhật 23-3, Ngân hàng JPMorgan Chase (JPM) bất ngờ đề nghị nâng giá mua Ngân hàng đầu tư Bear Stearns Cos. (BSC) lên 4 lần so với mức giá đã thỏa thuận, tức 10 đô la/cổ phần, trong một nỗ lực xoa dịu các cổ đông đang tức giận của Bear Stearns. Mới tuần trước, lãnh đạo hai ngân hàng, theo chỉ thị của Cục Dự trữ liên bang (FED) và Bộ Tài chính Mỹ, đã đồng ý sáp nhập vào nhau và định giá mỗi cổ phiếu của BSC là 2,32 đô la, bằng 1/15 giá giao dịch trên thị trường tại thời điểm đó.

Giá mua bán này gây phẫn nộ cho cổ đông của Bear Stearns - một tập đoàn tài chính có 85 năm lịch sử và được kính nể ở Wall Street; hàng loạt đơn kiện ban lãnh đạo BSC đã được nộp lên các tòa án liên bang và tiểu bang.

Ví dụ, đơn kiện của Quỹ hưu bổng ngành cảnh sát và cứu hỏa thành phố Detroit - chủ sở hữu 13.500 cổ phần của BSC, cho rằng giá mua bán không phản ánh được giá trị của BSC, cổ đông bị đối xử tàn tệ vì ban lãnh đạo không tìm cách nâng cao hay cứu vãn giá trị cổ phiếu. Nhiều cổ đông đề nghị đưa ngân hàng BSC ra đấu giá công khai trên thị trường.

Tại New York, nhà đầu tư nộp đơn lên tòa liên bang ở Manhattan tố cáo ban lãnh đạo BSC “lừa dối nhà đầu tư về tình hình tài chính của công ty”. Nhà đầu tư người Anh Joseph Lewis - cổ đông lớn nhất của BSC, người từng mua 1,26 tỉ đô la cổ phiếu BSC vào năm ngoái với giá bình quân 104 đô la/cổ phiếu - tuyên bố sẽ làm mọi việc cần thiết để ngăn chặn vụ mua bán này và yêu cầu tìm một phương án thay thế thỏa thuận chuyển nhượng cho JPM.

2. Sự sụp đổ của BSC diễn ra nhanh bất ngờ. Cuối tháng 2-2008, cổ phiếu của BSC còn giao dịch ở mức 93 đô la, tụt dần xuống 30 đô la vào ngày 14-3. Ngay sau đó, các khách hàng của BSC đã rút 17 tỉ đô la trong khi có lời đồn đoán rằng BSC mất khả năng thanh toán và có nguy cơ phá sản. Vấn đề nằm ở chỗ BSC đầu tư rất nhiều vào các loại cổ phiếu dựa trên các món vay mua nhà dưới chuẩn, cho vay cầm cố cổ phiếu (repo) mà nhà đầu tư không biết được giá trị các món vay này cũng như giá trị tài sản thế chấp mà BSC nắm giữ.

Từ giữa năm ngoái, khi thị trường tín dụng Mỹ bắt đầu khủng hoảng do nhà đất sụt giá và người vay không có khả năng thanh toán, hai quỹ đầu tư của BSC bị phá sản, giám đốc quỹ bị thay thế và công ty liên tiếp đối mặt với các vụ kiện tụng của giới đầu tư. Chính sự sụp đổ hai quỹ đầu tư của Bear Stearns vào tháng 6-2007 cũng đã gây tác động tâm lý làm cho cuộc khủng hoảng nhanh chóng trở nên trầm trọng vào tháng 8-2007.

Tháng 12-2007, Bear Stearns công bố mức lỗ quí 4-2007 là 854 triệu đô la, tương đương 6,9 đô la/cổ phiếu; đồng thời thất thoát 1,9 tỉ đô la đầu tư vào cổ phiếu cầm cố. Sang đầu năm nay các ngân hàng từ chối cho BSC vay vốn và BSC rơi vào khủng hoảng thanh khoản, buộc phải thông báo tình hình nguy cấp lên Ủy ban Chứng khoán Mỹ và chuẩn bị nộp đơn xin phá sản, chấm dứt hoạt động của ngân hàng đầu tư lớn thứ 5 của thị trường tài chính New York. 

Theo nhận định của ông Christopher Cox, Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Mỹ, sự sụp đổ của BSC không phải do thiếu tiền mà do thiếu lòng tin. Ông Cox lưu ý rằng những vấn đề của BSC trở nên trầm trọng rất nhanh khi tin đồn về khủng hoảng thanh khoản của BSC lan rộng, xói mòn lòng tin của nhà đầu tư, mặc dù “BSC vẫn có những khoản thế chấp có chất lượng bảo đảm cho các khoản cho vay của mình”, ông Cox nói với báo chí.

Hiện tượng mất lòng tin dẫn tới sụp đổ của BSC có vẻ như lặp lại tình huống của tập đoàn Enron trước đây.

3. Trước nguy cơ đổ vỡ dây chuyền trong hệ thống tín dụng, FED vào cuộc, cam kết cung cấp cho JPM khoản tín dụng nóng 30 tỉ đô la để ngân hàng này mua lại những khoản nợ của BSC đồng thời mua lại BSC với mức giá 236 triệu đô la, chỉ bằng một phần nhỏ so với tổng tài sản của BSC. Vai trò của FED và Bộ Tài chính Mỹ trong thương vụ này cũng gây nhiều tranh cãi và theo nhiều chuyên gia, FED hiện đứng trước một tình huống khó xử: phê duyệt hay không phê duyệt thỏa thuận mới giữa JPM và BSC?

Tuần trước giới đầu tư đã phẫn nộ với sự can thiệp của FED và Bộ Tài chính Mỹ vì cho rằng Chính phủ Mỹ dùng tiền của người dân đóng thuế vào việc cứu một doanh nghiệp tư nhân lẽ ra phải tự chịu trách nhiệm về những hoạt động kinh doanh đầy rủi ro của mình. Sự phẫn nộ đã buộc Bộ trưởng Tài chính Henry Paulson - người tham gia mật thiết vào các cuộc thương lượng giữa hai ngân hàng - phải lên truyền hình lý giải rằng, hành động của các cơ quan quản lý tài chính không phải là biện pháp giải cứu mà là một phương cách duy trì sự ổn định của toàn hệ thống tín dụng. Trong chương trình Today của Đài NBC, ông Paulson nói rằng, với giá 2 đô la/cổ phần, cổ đông của BSC thiệt hại rất nhiều nên không thể coi đây là vụ giải cứu (bailout) của chính phủ.

Bây giờ, giá mua lại BSC được nâng lên 10 đô la/cổ phần - tuy vẫn còn thấp so với giá giao dịch của BSC trước khi xảy ra vụ khủng hoảng - giới đầu tư càng có cơ sở để lên án sự can thiệp của chính phủ vào vụ sáp nhập, coi đó như một hành động làm méo mó thị trường và tạo tiền lệ xấu cho những vụ khủng hoảng trong tương lai. Nếu từ chối phê duyệt thỏa thuận mới, với mức giá mới mà JPM đề xuất, FED và Bộ Tài chính Mỹ vẫn có thể bị kiện vì cản trở doanh nghiệp thực hiện một giao dịch hợp pháp trên thị trường.

4. Bây giờ quyết định cuối cùng nằm trong tay các cổ đông của BSC, trong đó 14.000 nhân viên BSC sở hữu 30% vốn có nguy cơ mất cả vốn lẫn việc làm. Theo một nguồn tin từ các cuộc thương lượng, nếu vụ mua bán không được cổ đông BSC thông qua, Ban giám đốc của BSC vẫn tìm cách bán cho JPM 39,5% số cổ phần - luật của bang Delaware, nơi công ty đăng ký hoạt động, cho phép công ty được chuyển nhượng tối đa 40% cổ phần mà không cần qua đại hội cổ đông.

Nếu như vậy, JPM chỉ cần vận động cổ đông BSC bán thêm cho mình 10,5% số cổ phần là đã có thể hoàn tất thương vụ mà họ đang đeo đuổi. Riêng ban lãnh đạo BSC hiện nay nắm giữ khoảng 5% cổ phần. Trong trường hợp xấu nhất, theo ông James Dimon, Tổng giám đốc tập đoàn JPM, “hãy để cho Bear được phá sản”. Kết cục này chắc chắn sẽ gây nhiều ác mộng cả về pháp lý lẫn quan hệ với công chúng cho tất cả các bên.

HUỲNH HOA (Tổng hợp từ New York Times, Washington Post và Bloomberg)  

Vẫn chưa minh bạch

0
Vẫn chưa minh bạch

Vẫn chưa minh bạch

Đăng ký thành lập doanh nghiệp tại Sở Kế hoạch và Đầu tư TPHCM - Ảnh: Lê Toàn.

(TBKTSG Online) - Thói quen thực thi pháp luật dựa vào hướng dẫn nội bộ hoặc chỉ đạo tùy hứng của cấp trên đang gây rất nhiều khó khăn, phiền phức cho doanh nghiệp.

Nó còn là mảnh đất cho nhũng nhiễu, tiêu cực nảy nở.

Mới đây, một người bạn của chúng tôi đến Sở Kế hoạch và Đầu tư TPHCM làm thủ tục xin giấy chứng nhận đầu tư. Ôm túi giấy tờ nặng trĩu, người bạn cho biết doanh nghiệp của anh đầu tư vào lĩnh vực nhập khẩu, phân phối mà ngành nghề này vốn đang rối như canh hẹ về pháp lý nên mấy tháng nay hồ sơ phải bổ sung, điều chỉnh tới lui hoài.

Hồ sơ đến tay nhân viên thụ lý, khách phải cùng với người này dò từng câu chữ trong bộ hồ sơ dày cộp. Đến chỗ nào nhân viên bảo chưa đạt, khách lại lúi húi ghi chép. Cả hai có vẻ mệt nhoài sau gần một tiếng làm việc. Bỗng anh nhân viên hô lớn: “Lại thiếu rồi! Sao không ghi mã HS vào?”.

Thấy bạn tôi ngơ ngác, anh nhân viên đứng dậy đi ra phía sau, chốc lát cầm theo một văn bản. Đó là Công văn số 2286/BCT-KHĐT của Bộ Công thương trả lời Sở Kế hoạch và Đầu tư TPHCM về vấn đề thực hiện quyền phân phối. Văn bản này có đoạn: “Trường hợp sở cấp phép thực hiện quyền bán buôn cho dự án thì cần yêu cầu doanh nghiệp liệt kê mặt hàng nhập khẩu để bán buôn theo mã số HS 4 số nhằm thuận tiện trong khâu làm thủ tục hải quan”. “Chúng tôi có văn bản này đâu. Vả lại toàn bộ mặt hàng đã liệt kê hết trong hồ sơ rồi mà”, khách năn nỉ. “Không được đâu, phải làm theo yêu cầu thôi”- anh nhân viên trả lời.

Sau khi xin được bản sao công văn nói trên, anh bạn tôi lại thất thểu ôm túi hồ sơ nặng trĩu ra về.

Các luật sư cho biết trường hợp như vừa nêu chỉ là “chuyện nhỏ” thường gặp khi các doanh nghiệp thực hiện các thủ tục đầu tư, kinh doanh, đặc biệt là đối với những trường hợp liên quan đến cam kết của Việt Nam với WTO.

Do quy định của pháp luật không rõ ràng, chưa đầy đủ nên trong nhiều trường hợp, để an toàn, các cơ quan thi hành cấp dưới phải hỏi cơ quan cấp trên và những công văn trả lời nội bộ như vậy trở thành một loại văn bản “siêu pháp luật” có khi hiệu lực còn mạnh hơn những văn bản quy phạm pháp luật chính thức.

Một nhà đầu tư đến từ đảo British Virgin Island mấy tháng nay chờ làm thủ tục thành lập công ty dịch vụ về xây dựng. Cuối cùng, nhà đầu tư này cũng được Sở Kế hoạch và Đầu tư cho biết hồ sơ bị từ chối. Khi hỏi lý do, nhân viên của sở chìa ra một công văn của Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Không dẫn chiếu văn bản pháp luật nào cả, công văn này chỉ nói ngắn gọn, đại ý: cam kết về dịch vụ xây dựng của Việt Nam với WTO không áp dụng cho những pháp nhân được thành lập tại British Virgin Island. Nhà đầu tư ra về mà vẫn còn đầy những thắc mắc.

Cách làm việc “phập phồng” như trên khiến cho các văn phòng luật sư cũng phải e dè. Họ không dám “hứa” chắc với khách hàng mà thường phải gửi trước công văn hỏi cơ quan cấp phép hoặc các cơ quan chức năng cấp cao hơn. Nếu có mối quan hệ tốt thì sẽ nhận được hồi âm, còn không thì mịt mùng chờ đấy. 

Thói quen thực thi pháp luật dựa vào hướng dẫn nội bộ hoặc chỉ đạo tùy hứng của cấp trên đang gây rất nhiều khó khăn, phiền phức cho doanh nghiệp. Nó còn là mảnh đất cho nhũng nhiễu, tiêu cực nảy nở.

Điều đáng nói là trong khi vai trò của các công văn nội bộ được khoác tầm quan trọng như thế thì nghị định hướng dẫn thực hiện cam kết của Việt Nam với WTO vẫn đang trong quá trình dự thảo. Tệ hơn là không hiểu sao dự thảo này lại không được công bố rộng rãi? Trên các website từ của Chính phủ đến của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, cơ quan soạn thảo, đến Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam… chúng ta có thể tìm thấy rất nhiều dự thảo khác nhưng riêng dự thảo nghị định nói trên thì hoàn toàn vắng bóng. Vì sao?

NGUYÊN TẤN

 

Chưa đủ “đô”!

0
Chưa đủ “đô”!

Chưa đủ “đô”!

Các giải pháp điều hành cung cầu ngoại tệ của Ngân hàng Nhà nước vẫn còn mang tính tình thế và chậm chạp -Ảnh: LÊ TOÀN

(TBKTSG Online)- Điều hành cung cầu ngoại tệ của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) bắt đầu uyển chuyển và linh hoạt hơn trước những biến động của đồng đô la Mỹ trên thị trường thế giới và ảnh hưởng của nó đến thị trường tiền tệ Việt Nam.

Tuy nhiên, các giải pháp vẫn còn mang tính tình thế và chậm chạp.

Giải pháp vòng quanh

Ngày 18-3-2008 (ngay sau khi các ngân hàng nộp đủ tiền mua 20.300 tỉ đồng tín phiếu bắt buộc), NHNN có văn bản gửi các tổ chức tín dụng về việc mua bán ngoại tệ tiền mặt. Theo đó, những ngân hàng muốn thực hiện mua bán ngoại tệ mặt theo tỷ giá thỏa thuận (vượt ngoài biên độ cho phép) cần gửi hồ sơ về NHNN để cơ quan này xem xét.

Hồ sơ gồm công văn đề nghị cho áp dụng nghiệp vụ và dự thảo quy trình mua bán bao gồm hình thức chào giá, phương thức giao dịch, phương án cân đối nguồn ngoại tệ và phạm vi áp dụng. Có thể hiểu là căn cứ vào nhu cầu của các ngân hàng, ngân hàng nào xin sẽ được phép thực hiện.

Hai ngày sau, các ngân hàng nhận được một văn bản khác (số 2605/NHNN-QLNH 20-3-2008) liên quan đến việc NHNN mua vào ngoại tệ. Các ngân hàng được yêu cầu báo cáo số lượng ngoại tệ cần bán, số ngoại tệ còn lại sau khi đã cân đối bán cho các công ty nhập khẩu và mua từ các công ty xuất khẩu. NHNN nói rõ sẽ ưu tiên mua ngoại tệ từ các tổ chức tín dụng có trạng thái ngoại hối dương và đã mua ngoại tệ của doanh nghiệp xuất khẩu.

Hai văn bản trên là dấu hiệu báo trước những chuyển động trong tầm ngắm nhằm giải quyết tình trạng dư thừa đô la thương mại và thiếu hụt đô la tín dụng của cơ quan quản lý ngành ngân hàng. Tuy nhiên, các giải pháp nêu trong hai văn bản dường như mới chỉ đi vòng quanh, chưa xoáy thẳng vào vấn đề.

Việc mua bán ngoại tệ mặt theo tỷ giá thỏa thuận đã được thí điểm tại Eximbank từ hơn một năm trước và nay chỉ là triển khai trên diện rộng. Giao dịch ngoại tệ mặt chiếm một tỷ lệ nhỏ trong kinh doanh ngoại hối của các ngân hàng, chủ yếu là mua lẻ từ dân cư, khách du lịch và bán cho những đối tượng du học, du lịch, chữa bệnh ở nước ngoài...

Trong khi đó, điểm nhấn là ngoại tệ chuyển khoản lại không được nhắc đến. Mua bán đô la chuyển khoản vẫn phải tuân thủ biên độ ±1% so với tỷ giá do NHNN công bố hàng ngày. Như vậy, các ngân hàng vẫn phải lách bằng cách cộng thêm phí và tỷ lệ cộng thêm là không giới hạn, có thể 1-2%, mà cũng có thể 3-4%, thậm chí 5%.

Còn việc báo cáo lượng ngoại tệ cần bán cho NHNN từ trước đến nay các ngân hàng vẫn làm. Đòi hỏi báo cáo chênh lệch ngoại tệ còn lại sau khi đã bán cho nhà nhập khẩu và mua từ xuất khẩu là không thực tế vì Việt Nam đang nhập siêu, lượng đô la còn lại sau khi cân đối thanh toán xuất - nhập là không nhiều. Nhiều là ở nguồn đô la từ đầu tư nước ngoài gián tiếp, trực tiếp, từ kiều hối, từ vay thương mại. Nguồn này đang ứ đọng và các ngân hàng không thể tiêu thụ hết vì trạng thái ngoại hối đã đầy.

Hút tiền trước, mua ngoại tệ sau

Rút kinh nghiệm năm ngoái tung ra một lượng tiền đồng quá lớn để mua ngoại tệ và không hút về kịp thời, đầy đủ, năm nay Nhà nước chủ trương hút tiền về trước, mua ngoại tệ sau. Trong quí 1-2008, NHNN dự kiến hút về số tiền đồng gấp chừng hai lần lượng tín phiếu bắt buộc mà các ngân hàng vừa mua ngày 17-3-2008. Đổi lại, từ đầu năm đến nay, NHNN đã mua vào theo phỏng đoán 1,5 tỉ đô la Mỹ cho quỹ dự trữ ngoại hối, trong đó gần một nửa là mua từ xuất khẩu.

Đáng chú ý là trong hơn hai tháng qua, lượng kiều hối chuyển về nước rất mạnh, ước 1,5 tỉ đô la Mỹ, chỉ thấp hơn tổng luồng vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp khoảng 10-15%. Tết Dương lịch và Tết Âm lịch là thời điểm chi trả kiều hối nhiều nhất trong năm. Kiều hối đã trở thành nguồn chính tài trợ cho cán cân thanh toán.

NHNN không thể không mua một phần kiều hối chuyển về nước, cũng như không thể không mua một tỷ lệ nhất định ngoại tệ từ đầu tư trực tiếp nước ngoài, từ các tổ chức quốc tế đang hoạt động tại Việt Nam, nhưng tỷ trọng ngoại tệ mua từ xuất khẩu có thể tăng lên nếu số ngoại tệ mua từ Bộ Tài chính giảm xuống.

NHNN khẳng định những tháng tới sẽ tiếp tục mua ngoại tệ và ưu tiên mua từ xuất khẩu, nhưng chỉ tiêu mua như thế nào để các ngân hàng có thể định hướng trong thanh toán xuất - nhập khẩu thì chưa rõ. Điều đáng băn khoăn là vì sao chúng ta không thể tăng dự trữ ngoại hối từ một phần ba nhu cầu nhập khẩu hiện nay (vốn thấp hơn các nước khu vực) lên, chẳng hạn, một phần hai nhu cầu nhập khẩu, tương đương mức của Thái Lan?

Ngoài ra cũng không thể không tính đến khả năng đô la Mỹ có thể lên giá trở lại bất cứ lúc nào so với các ngoại tệ mạnh khác một khi kinh tế Mỹ không rơi vào suy thoái nhờ các biện pháp hỗ trợ mạnh và kiên quyết của Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED). Nếu đồng đô la phục hồi, chứng khoán thế giới phục hồi, dòng vốn ngoại chảy vào Việt Nam sẽ không thể dồi dào như hiện tại. Khi đó việc tăng dự trữ ngoại hối quốc gia sẽ trở nên khó khăn, bởi lúc ấy sự cân nhắc sẽ không đơn thuần là mua hay không mua mà mua từ nguồn nào, với tỷ giá nào, nhất là khi nhập siêu của quí 1-2008 dự báo có thể lên đến 7,36 tỉ đô la Mỹ, khiến thâm hụt thương mại đang “phình ra” một cách đáng lo ngại.

Bên cạnh đó, chưa có giải pháp mới nào cho tín dụng ngoại tệ. Từ cuối năm ngoái, NHNN đã đề cập đến việc sửa đổi quy chế cho vay ngoại tệ theo hướng thu hẹp đối tượng được vay ngoại tệ. Song, đến nay việc sửa đổi này vẫn chưa diễn ra trong khi “ham muốn” vay ngoại tệ tăng cao do lãi suất đô la thấp hơn tiền đồng. Tổng nguồn ngoại tệ của các ngân hàng hiện tương đối dồi dào từ nhiều nguồn khác nhau, nhưng vốn huy động ngoại tệ từ dân cư và tổ chức kinh tế lại không đáp ứng đủ nhu cầu vay ngoại tệ. Huy động ngoại tệ được bao nhiêu, các ngân hàng đã cho vay gần hết. Nếu điều này không được tháo gỡ sớm, nguy cơ rủi ro thanh khoản ngoại tệ sẽ thành hiện thực.

HẢI LÝ

Lạm phát, đại dịch toàn cầu

0
Lạm phát, đại dịch toàn cầu

Lạm phát, đại dịch toàn cầu

Bộ trưởng Tài chính Ấn Độ cam kết kềm chế lạm phát và gia tăng hỗ trợ cho khu vực nông nghiệp đang chựng lại vì lạm phát -Ảnh: AFP

(TBKTSG Online) - “Kiểm soát lạm phát là ưu tiên hàng đầu” đã trở thành khẩu hiệu chung của các chính phủ từ Âu sang Á trong bối cảnh thế giới hiện nay khi mà ngay cả nước giàu cũng lao đao vì giá cả leo thang.

Khủng hoảng nhà đất ở Mỹ đã kéo theo một cuộc khủng hoảng tín dụng toàn cầu trong 7 tháng qua, bao phủ một đám mây u ám lên nền kinh tế thế giới. Lạm phát và giá cả leo thang đang là nỗi lo chung của nhiều nhà hoạch định chính sách.

Ấn Độ: Có thể hy sinh một phần tăng trưởng

Các nhà hoạch định chính sách Ấn Độ đã báo động về áp lực giá cả sau khi lạm phát tháng 3 lên đến mức cao nhất trong 14 tháng. Số liệu công bố ngày thứ Sáu, 28-3, cho thấy mức lạm phát của 12 tháng tính đến ngày 15-3 là 6,68%, cao hơn con số 5,92% của tuần trước đó và vượt xa mức trần 5% mà Ngân hàng Dự trữ Ấn Độ đề ra.

Trong chuyến viếng thăm Mumbai, Bộ trưởng Tài chính Palaniappan Chidambaram trả lời báo giới rằng lãi suất vẫn là công cụ hữu hiệu nhất để kiểm soát áp lực về giá.

Phó thống đốc Ngân hàng Ấn Độ, Rakesh Mohan, thừa nhận: “Chúng tôi cần có thời gian để xem xét và cân nhắc đến các yếu tố toàn cầu như giá dầu và các nguồn cung khác trước khi đi đến một quyết định.”

Ngân hàng trung ương Ấn Độ đã giữ nguyên mức lãi suất 7,75% suốt một năm sau khi đã có 5 lần tăng lãi suất trong thời gian từ tháng 6-2006 đến 3-2007 nhằm hạ nhiệt giá cả trong tình hình nền kinh tế tăng trưởng tốc độ. Trong năm tài khóa kết thúc vào 31-3, kinh tế Ấn Độ đạt mức tăng trưởng 8,7%, thấp hơn mức 9,6% của năm 2006-2007.

Ông Chidambaram khẳng định lạm phát tăng không phải do chính sách sai mà xuất phát từ nhu cầu về các loại hàng hóa như thực phẩm và dầu thô trên toàn thế giới. Ông tuyên bố: “Tôi đảm bảo Chính phủ quyết tâm dùng đến mọi biện pháp, tài chính, tiền tệ và nguồn cung, để kiềm chế lạm phát và nếu điều đó đồng nghĩa với việc chúng ta phải giảm bớt tăng trưởng thì cũng phải hy sinh”.

Nhật: Thất nghiệp tăng cùng giá

Nhật Bản đã vật lộn với tình trạng giảm phát (giá cả đi xuống) trong gần một thập niên nhưng các báo cáo ngày thứ Sáu, 28-3, cho thấy tháng thứ năm liên tiếp giá cả tăng. Chỉ số giá tiêu dùng tăng 1% trong tháng 2 so với cùng kỳ năm trước, đây là mức lạm phát nhanh nhất kể từ tháng 3-1998. Nhưng điều đáng nói là giá dầu và hàng hóa nhập khẩu nhảy vọt đang gia tăng sức ép lên chi phí sinh hoạt.

Đồng thời, tỉ lệ thất nghiệp tăng từ 3,8% trong tháng 1 lên 3,9% trong tháng 2 càng làm gia tăng những lo ngại cho nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Tỉ lệ thất nghiệp trong tháng 9 và 10-2007 là 4%, sau đó giảm xuống 3,8% trong tháng 11-2007 và đứng yên trong 3 tháng. Kinh tế trong nước chựng lại và tình hình xuất khẩu suy giảm đã đưa các công ty đến chỗ phải giảm biên chế, tăng số người thất nghiệp trong tháng 2.

Bộ trưởng Kinh tế Hiroko Ota lo ngại về sức mua: “Trong tình hình tăng trưởng kinh tế trì trệ, lương không tăng, tôi e rằng giá cả tăng như thế, phần lớn do giá xăng dầu và thực phẩm, sẽ ảnh hưởng đến người tiêu dùng và giảm sức mua”.

Đức: Lạm phát nhanh hơn dự đoán

Số liệu ban đầu của Cục Thống kê Liên bang Đức cho thấy lạm phát của nền kinh tế lớn nhất châu Âu trong tháng 3 lên đến 3,1%. Trước đó, các kinh tế gia cho rằng dưới biện pháp ghìm cương của khối EU, lạm phát ở Đức chỉ tăng trong khoảng 2,9- 3%. Chỉ số giá tiêu dùng tăng 0,5%, trong khi mức dự đoán là 0,3%.

Theo Cục Thống kê, giá cả thực phẩm và các sản phẩm dầu mỏ tăng đã thúc đẩy lạm phát. Giá thực phẩm tăng 0,2-0,9% trong khi giá dầu hỏa tăng 5,1-8,9% so với tháng 2, đẩy giá tiêu dùng tăng cao ở cả 6 bang của Đức.

Theo ông Axel Weber, Chủ tịch Ngân hàng Liên bang Đức Bundesbank, nước này sẽ không đạt được mức tăng trưởng 1,6% trong năm 2008 như dự đoán hồi tháng 12 của Bundesbank, do đồng euro tăng giá, giá dầu kỷ lục và khủng hoảng tài chính.

ECB: Sẽ tăng lãi suất nếu cần thiết

Lạm phát ở khối sử dụng đồng euro đã lên đến 3,3% vào tháng 2, tốc độ nhanh nhất trong 14 năm qua. Nhưng vì muốn đảm bảo tăng trưởng kinh tế, Ngân hàng trung ương châu Âu (ECB) cương quyết không đi theo đường lối của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ là hạ lãi suất cho vay.

Lãi suất cho vay euro và bảng Anh đã  đạt mức cao nhất trong năm do các ngân hàng hút tiền mặt về trước khi kết thúc quí 1. Doanh số bán lẻ ở châu Âu đi xuống trong tháng 3 và niềm tin của người tiêu dùng suy giảm trên toàn khu vực.

Hai thành viên của hội đồng điều hành ECB, Axel Weber và Juergen Stark, vừa cho biết họ sẵn sàng tăng lãi suất để khống chế lạm phát.

Trong một bài phát biểu ở Luxembourg ngày 28-3, ông Weber khẳng định ECB “sẽ hành động” để kìm hãm áp lực giá cả đang ở mức “báo động” nếu mức lạm phát đề ra bị đe dọa. Còn tại Cape Town, ông Stark cho rằng mức lãi suất 4%, cao nhất trong 6 năm qua, có lẽ không đủ để kiểm soát lạm phát.

Stark và Weber nổi tiếng là những “chiến sĩ” chống lạm phát cứng rắn nhất của ECB, mục tiêu đề ra là phải giữ lạm phát dưới 2%. Tuy nhiên, các nhà hoạch định chính sách của Bồ Đào Nha và Bỉ cho rằng tăng trưởng chậm lại mới giảm được áp lực giá cả.

NGỌC THU (tổng hợp) 

Hanel trở thành nhà sản xuất OEM của Intel

0
Hanel trở thành nhà sản xuất OEM của Intel

Hanel trở thành nhà sản xuất OEM của Intel

(TBKTSG Online) - Tập đoàn Intel và Công ty Điện tử Hà Nội (Hanel) đã ký thỏa thuận hợp tác để Hanel trở thành nhà sản xuất máy tính thiết bị gốc (OEM) của Intel tại Việt Nam.

Theo đó, Hanel cam kết sử dụng 100% công nghệ xử lý của Intel trong sản phẩm của mình, và sử dụng phần lớn bo mạch chủ gốc của Intel trong cho máy tính để bàn, máy tính xách tay và máy chủ phục vụ các dự án giáo dục và Chính phủ. Hanel cũng hợp tác với Intel trong các chương trình Chính phủ như chương trình máy tính giá rẻ cho các trường học...

OEM hiện là danh hiệu cao nhất của Intel dành cho các công ty sản xuất - lắp ráp máy tính trên thế giới. Với việc trở thành đối tác OEM của Intel, Hanel sẽ nhận được hỗ trợ để nâng cao khả năng sản xuất và tiếp cận công nghệ mới của Intel với chất lượng cao và giá cả cạnh tranh. Intel cũng hỗ trợ Hanel trong việc ứng dụng các giải pháp, công nghệ, các sản phẩm mới trong lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông.

Hanel là doanh nghiệp nhà nước hoạt động từ năm 1984, hiện có 24 công ty thành viên và 8.300 nhân viên. Năm 2007, Hanel đạt tổng doanh thu 278 triệu đô la Mỹ.

Intel Vietnam cũng công bố trong năm 2008 sẽ tiếp tục tài trợ 900 máy tính cho ngành giáo dục theo cam kết “Công nghệ thông tin cho giáo dục” đã ký với Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Đây là một hoạt động nằm trong khuôn khổ chương trình Intel World Ahead được Intel công bố trên toàn cầu năm 2006 nhằm mở rộng khả năng tiếp cận công nghệ và giáo dục cho người dân ở các nước đang phát triển.

Chương trình được Intel cam kết tài trợ 1 tỉ đô la Mỹ trong 5 năm tại 9 quốc gia khu vực châu Á-Thái Bình Dương gồm Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Pakistan, Philippines, Sri Lanka, Thái Lan và Việt Nam.

TUYẾT ÂN

Giá hàng hóa thế giới đồng loạt giảm

0
Giá hàng hóa thế giới đồng loạt giảm

Giá hàng hóa thế giới đồng loạt giảm

Giá vàng giảm do đồng đô la đang hồi phục -Ảnh: AFP

(TBKTSG Online) - Sự phục hồi dần của đồng đô la Mỹ đã tác động đến giá vàng, dầu thô và nông sản trên các thị trường giao dịch, khiến tất cả đồng loạt giảm.

Giá vàng rớt mạnh trong ngày thứ Sáu, 28-3, sau khi đồng đô la tăng nhẹ và giá dầu thô giảm, cắt bớt sức hút của vàng vốn được xem là kênh đầu tư chống lạm phát.

Trên sàn giao dịch NYMEX, giá vàng giao tháng 4-2008 đã giảm 18,2 đô la, còn 930,6 đô la/ounce. Giá bạc giao tháng 5 đã giảm 61 cent, còn 17,94 đô la/pound, giá đồng giảm 4,15 cent, khoảng 3,8315 đô la/pound.

Đồng đô la Mỹ vẫn đang thu hẹp dần khoảng cách với đồng euro, dù trước đó, Bộ Thương mại Mỹ đưa ra số liệu cho thấy mức tiêu dùng Mỹ chỉ tăng 0,1% trong tháng 2-2008, con số thấp nhất kể từ tháng 9-2006.

Ông George Gero, Phó chủ tịch của RBC Capital Markets Global Futures ở New York, nhận xét: "Vàng không còn là kênh đầu tư tối ưu. Đồng đô la đang lấy lại tầm ảnh hưởng và góp phần điều chỉnh giá dầu".

Trên các thị trường năng lượng, giá dầu thô bị tác động bởi sự phục hồi của đồng đô la và thông tin xác nhận rằng sự cố xảy ra ở hệ thống dẫn dầu chủ chốt sẽ không làm giảm sản lượng xuất khẩu dầu thô của Iraq.

Giá dầu thô ngọt, nhẹ giao tháng 5 giảm 1,96 đô la, còn 105,62 đô la/thùng. Trong ba ngày trước, giá dầu đã tăng 6,72 đô la.

Giá các loại năng lượng khác cũng giảm. Giá dầu hỏa giao tháng 4 giảm 4,33 cent, còn 3,105 đô la Mỹ/gallon.

Trên thị trường nông sản, giá lúa mì ngày thứ Sáu đã giảm đến mức thấp nhấp trong vòng hai tháng qua và giảm liên tục trong 3 phiên giao dịch. Tại sàn giao dịch nông sản Chicago (CBOT), giá lúa mì giao tháng 5 giảm 24 cent, còn khoảng 9,9 đô la/bushel (khoảng 36,4 lít). Giá đậu nành giao tháng 5 cũng giảm mạnh 57,25 cent, còn 12,7 đô la/bushel.

MỸ HẠNH (Theo AP)

Xuất hiện thêm hơn 1400 virus mới  

0
Hanel trở thành nhà sản xuất OEM của Intel

Xuất hiện thêm hơn 1400 virus mới  

(TBKTSG Online) - Tin từ Trung tâm An ninh mạng BKIS cho hay, 1.493 virus mới được cập nhật cho chương trình Bkav trong tháng 3-2008 đều có xuất xứ từ nước ngoài. Trong đó, nhiều nhất là các virus có xuất xứ từ Trung Quốc, Mỹ, Ukraine và Nga.

Cũng theo thống kê từ hệ thống giám sát virus của BKIS trong năm 2007, trong số 6.752 virus mới xuất hiện tại Việt Nam chỉ có 14 virus có nguồn gốc từ trong nước (chiếm 0,2%).

Với môi trường Internet, sự phát tán của virus không phụ thuộc vào vị trí địa lý của các quốc gia. Người sử dụng ở Việt Nam hay ở một nước nào khác cũng đều phải đối mặt với những nguy cơ về virus như nhau, bất kể virus xuất xứ từ đâu trên thế giới.

Chính vì vậy, để phòng chống virus hiệu quả, người sử dụng cần lựa chọn phần mềm diệt virus có khả năng phát hiện nhanh những virus mới xuất hiện và cập nhật kịp thời.

THU PHƯƠNG

Những tuyên bố dễ bị trục lợi

0
Những tuyên bố dễ bị trục lợi

Những tuyên bố dễ bị trục lợi

Ở ta, rất nhiều bộ, ngành, cơ quan quản lý đều có người phát biểu về thị trường chứng khoán, khiến cho nhà đầu tư rơi vào mê hồn trận thông tin chính sách, không biết đâu mà lần.

(TBKTSG Online) - Trong thời gian giá chứng khoán sụt giảm mạnh, đã có nhiều lãnh đạo đưa ra các tuyên bố về cách “cứu” thị trường, bảo nhà đầu tư bình tĩnh... Liệu điều này có tạo ra một tiền lệ xấu đối với thị trường?

Nhà đầu tư có thông tin và không có thông tin

Nhà đầu tư không có thông tin rất dễ bị tổn thương do các tin đồn trên thị trường gây ra. Ví dụ, khi có một tin đồn nào đó trên thị trường, như tin Chính phủ sẽ tung tiền ra cứu thị trường, các nhà đầu tư có thông tin, biết rằng Chính phủ không thể tung quá nhiều tiền ra, sẽ dùng chiến lược “nhử” nhà đầu tư không có thông tin bằng cách đưa ra các tin về việc Chính phủ sẽ mua những loại cổ phiếu nào, phóng đại quy mô về khả năng cứu thị trường của Chính phủ; thậm chí mua nhử vào vài cổ phiếu để đẩy giá lên. Khi nhà đầu tư không có thông tin mắc bẫy, đẩy giá lên, thì nhà đầu tư có thông tin lại bán ra, “lướt sóng” kiếm lợi. Kết quả, người không có thông tin sẽ mắc bẫy và thua lỗ.

Điển hình ở nước ngoài, tin đồn về việc FED có khả năng cắt lãi suất đến 1 điểm phần trăm lan rộng trên thị trường đã gây thiệt hại cho nhiều nhà đầu tư. Vì kỳ vọng FED cắt lãi suất mạnh đến thế mà nhiều người đã đẩy giá đô la Mỹ xuống rất thấp và bán cổ phiếu ra nhiều trong vòng 24 giờ trước khi có thông tin chính thức về lãi suất. Sau đó, người ta đã chứng kiến một sự hồi phục nhanh chóng của đồng đô la và cổ phiếu Mỹ trong khi có sự sụt giảm thê thảm của giá vàng và các loại ngoại tệ khác khi FED chỉ cắt 0,75 điểm phần trăm lãi suất và tăng cường bơm tiền vào hệ thống ngân hàng.

Những người không có đầy đủ thông tin, không có những phân tích chuyên sâu hay kênh thông tin riêng là người bị thiệt hại trong vụ lên xuống rất nhanh của giá vàng, chứng khoán và ngoại tệ vừa rồi trên thị trường Mỹ vì họ bị rối loạn bởi các tin đồn trong điều kiện thị trường hỗn loạn.

Phát biểu của lãnh đạo có thể tạo điều kiện trục lợi trên thị trường

Phân tích trên cho thấy, những phát biểu của các cơ quan quản lý và những người lãnh đạo nền kinh tế hoàn toàn có thể tạo điều kiện cho nhiều người trục lợi trên thị trường bằng cách đưa ra các tin đồn hoặc thực hiện những giao dịch làm mồi nhử nhằm lôi kéo số nhà đầu tư không có thông tin chạy vào thị trường đẩy giá lên hay kéo giá xuống, để làm lợi cho bản thân họ. Sau đó, thị trường sẽ điều chỉnh lại khi các tin đồn đã được chứng thực và người bị thiệt hại chỉ là những nhà đầu tư không có thông tin, chạy theo tin đồn.

Ví dụ, khi có lãnh đạo bảo sẽ cố gắng không để thị trường giảm điểm nữa, đó là một cơ sở để nhiều người dựa vào mà “vẽ” ra không biết bao nhiêu thông tin về dự án can thiệp thị trường của Chính phủ. Và sẽ có nhà đầu tư thiếu thông tin, tin vào đó mà tham gia vào đội ngũ đẩy giá chứng khoán lên giùm các “đại gia”.

Theo thông lệ tại các thị trường phát triển, trên từng loại thị trường (ngoại hối, chứng khoán...), chỉ có một người phát ngôn chính được các nhà đầu tư đặt mối quan tâm và tin tưởng. Ví dụ như Mỹ thì chủ tịch FED là người được các nhà đầu tư quan tâm phân tích từng câu chữ trong phát biểu. Phát biểu của những người đại diện kiểu này thường mang tính dự đoán được, như ông ta đưa ra quan điểm nếu lạm phát còn tăng, tôi sẽ xem xét tăng lãi suất hay không giảm lãi suất nhiều để đảm bảo lạm phát không cao; ngược lại, nếu lạm phát không quá cao, tôi vẫn có thể giảm lãi suất để kích thích kinh tế. Phát biểu thường đi kèm với các biện pháp cụ thể.

Ở ta, rất nhiều bộ, ngành, cơ quan quản lý đều có người phát biểu về thị trường chứng khoán, khiến cho nhà đầu tư rơi vào mê hồn trận thông tin chính sách, không biết đâu mà lần. Thế là chính sách vừa không dự báo được, vừa bị nhiễu loạn - một môi trường rất thuận lợi cho sự tồn tại của tin đồn và trục lợi.

Lấy ví dụ như vụ việc SCIC “cứu” thị trường vừa rồi, mấy ai có đủ thông tin để cân nhắc việc SCIC có tiềm lực tài chính bao nhiêu mà can thiệp vào thị trường trong khi không biết bao nhiêu tỉ đồng chứng khoán cầm cố đang bị áp lực bán ra. Những người thiếu thông tin cứ cho rằng Nhà nước nhiều tiền lắm, SCIC nhiều tiền lắm, sẽ cứu được thị trường, để rồi vỡ mộng. Không biết bao nhiêu tin đồn đã đưa ra về việc SCIC sẽ mua cổ phiếu nào, mua ra sao.

Kinh nghiệm trước mắt ấy còn chưa qua, nay lại có một lãnh đạo bảo rằng Chính phủ cố gắng không để thị trường giảm điểm. Nhà đầu tư sẽ diễn dịch thông tin này như thế nào đây? Và nếu họ lại thất vọng một lần nữa, là nạn nhân của tin đồn một lần nữa, thì thị trường sẽ càng mất niềm tin.

Thị trường chứng khoán là dựa vào niềm tin, vì vậy xin đừng phá hỏng nó. Muốn cứu thị trường thật sự, cần phải có một hệ thống thông tin minh bạch, truyền thông chính sách rõ ràng, có cơ sở và có trách nhiệm.

Cuối cùng, thị trường chứng khoán còn non trẻ có thể ví như một đứa trẻ, không thể mãi bảo bọc cho nó, phải để nó tự phát triển và tự chịu trách nhiệm. Làm người giám hộ cho đứa trẻ, khi nó bị điểm kém thì đừng làm bài tập cho nó (chưa chắc người giám hộ làm đúng), mà phải làm gương, hành xử nhất quán và đúng mực, cho nó quen với kỷ luật, và đừng đánh mất niềm tin trẻ nhỏ bằng những lời hứa suông.

HỒ QUỐC TUẤN (Thạc sĩ Tài chính Đại học Melbourne)

Cơ hội để chuyển đổi nền kinh tế?

0
Hanel trở thành nhà sản xuất OEM của Intel

Cơ hội để chuyển đổi nền kinh tế?

(TBKTSG Online) - Nền kinh tế nước ta đang đứng trước những khó khăn, thách thức lớn, một mặt do những chuệch choạc trong chính sách vĩ mô, chính sách tiền tệ khiến lạm phát và giá cả tăng cao; mặt khác do giá nguyên, nhiên liệu trên thế giới tăng đến chóng mặt.

Nhưng nguyên nhân cơ bản, sâu xa hơn, phải nói là do nền kinh tế nước ta cho đến nay vẫn chủ yếu phát triển theo bề rộng bằng cách gia tăng các yếu tố đầu vào, thêm vào đó là lãng phí, thất thoát lớn, nên rất kém hiệu quả và rất dễ bị tổn thương do những biến động trên thị trường thế giới. Hệ số ICOR của Việt Nam giai đoạn 2001-2006 vừa qua (4,4) còn cao hơn cả hệ số này của Thái Lan (4,1) và Indonesia (3,7) giai đoạn 1981-1995, trong khi tỷ lệ tăng trưởng năm năm vừa qua của Việt Nam (7,6%) còn thấp hơn Thái Lan (8,1%) giai đoạn 1981-1995 (Báo cáo “Lựa chọn thành công...” của Chương trình châu Á, trường Chính quyền John F. Kennedy, Đại học Harvard). Giải quyết nguyên nhân gốc rễ này để tăng cường tính hiệu quả của nền kinh tế tất nhiên đòi hỏi những giải pháp căn bản chứ không thể chỉ bằng một số biện pháp ngắn hạn, trước mắt.

Nền kinh tế thế giới từng không ít lần trải qua những thời kỳ khó khăn, khủng hoảng và cũng đã từng chứng kiến không ít quốc gia thành công trong việc biến khó khăn thành cơ hội để chuyển đổi nền kinh tế của họ lên một trình độ phát triển cao hơn về chất lượng và tính hiệu quả, như Nhật Bản trong cuộc khủng hoảng dầu lửa những năm 1970. Liệu Việt Nam có thể biến những khó khăn hiện nay thành cơ hội để thực hiện một cuộc chuyển đổi tương tự? Câu trả lời tùy thuộc vào quyết tâm của Chính phủ trong việc lựa chọn tính hiệu quả làm tiêu chí cao nhất trong mọi quyết định chính sách, mọi quyết định đầu tư và chi tiêu công, mọi ưu đãi hoặc hỗ trợ cho thành phần này hay thành phần khác trong nền kinh tế, cũng như quyết tâm giải quyết tận gốc mọi nguyên nhân gây thất thoát, lãng phí.

Xét như thế thì có vô số việc phải làm cả trước mắt và lâu dài, chẳng hạn việc sớm đề ra chính sách khuyến khích đổi mới công nghệ nhằm giảm tiêu hao nguyên, nhiên liệu, đổi mới quản lý doanh nghiệp nhằm tăng tính hiệu quả và khả năng ứng phó linh hoạt với thị trường... Nhưng cấp bách trước mắt là giải quyết rốt ráo những doanh nghiệp nằm dưới sự chủ quản của các bộ, các cấp chính quyền mà khi vỡ lở mới hay đó là những cái ổ tham ô, lãng phí như vụ COSEVCO thuộc Bộ Xây dựng mới đây là một thí dụ. Còn bao nhiêu doanh nghiệp nhà nước như thế chưa được đưa ra ánh sáng? Còn bao nhiêu công trình đầu tư, chi tiêu công lãng phí chưa được kiên quyết chấm dứt và ngăn chặn? Bao giờ thì phần lớn doanh nghiệp, tổng công ty, tập đoàn kinh tế nhà nước được trả về với cơ chế thị trường thực sự để Nhà nước chỉ còn giữ lại một số ít doanh nghiệp thực sự cần thiết trong các lĩnh vực chiến lược?

Những khó khăn hiện nay càng cho thấy tính cấp bách của vấn đề mà lẽ ra đã phải giải quyết từ lâu. Muốn chuyển đổi nền kinh tế sang trình độ phát triển cao hơn, hiệu quả hơn cũng đòi hỏi trước hết phải giải quyết những cỗ máy ngốn tiền ngân sách, phung phí, phá hoại nguồn lực quốc gia đã tồn tại quá lâu.

THỜI BÁO KINH TẾ SÀI GÒN