Thứ Hai, 3/10/2022, 03:45
26 C
Ho Chi Minh City

Đặt báo in

Thông tin quảng cáo

Thông tin quảng cáo

Phản ứng trước khủng hoảng

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

Phản ứng trước khủng hoảng

Nhà báo Quốc Vĩnh – Phó tổng biên tập Thời báo Kinh tế Sài Gòn giới thiệu buổi tọa đàm – Ảnh: LÊ TOÀN

(TBKTSG Online) – “choáng”, “sốc”… là những từ được doanh nghiệp mô tả về tình trạng khốn đốn của mình hiện nay. Tại buổi tọa đàm “Phản ứng trước khủng hoảng” hôm 24-3, các chuyên gia kinh tế và doanh nghiệp đã cùng phân tích thực trạng kinh tế trong cơn suy thoái cũng như chia sẻ kinh nghiệm vượt qua khó khăn.

Buổi tọa đàm do Thời báo Kinh tế Sài Gòn phối hợp cùng Trung tâm Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (VAPEC) tổ chức với hơn 30 vị khách mời là các doanh nghiệp, chuyên gia kinh tế, các thành viên VAPEC đã đến tham dự.

Tham gia trình bày những đề tài liên quan là tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh – Giám đốc nghiên cứu Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright tại Việt Nam, chuyên gia Tài chính Ngân hàng Lê Trọng Nhi, với sự chủ trì của nhà báo Quốc Vĩnh – Phó tổng biên tập Thời báo Kinh tế Sài Gòn.

Buổi tọa đàm đã được tường thuật trực tuyến trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online vào lúc 2 giờ chiều ngày 24-3 và kéo dài trong ba tiếng đồng hồ.

Dưới đây là nội dung buổi tọa đàm được thể hiện theo hình thức tường thuật trực tiếp:

Mở đầu buổi tọa đàm, nhà báo Quốc Vĩnh giới thiệu hai đề tài được trình bày gồm “Triển vọng kinh tế 2009 – Việt Nam và thế giới” và “Phản ứng của doanh nghiệp”.

Ông Vũ Thành Tự Anh cho biết sẽ trình bày đề tài của mình dưới góc độ phân tích chính sách công. Phần nhìn nhận lại nền kinh tế năm 2008, ông Tự Anh sẽ thảo luận về hai luận điểm chính là sự bất ổn vĩ mô bên trong và suy thoái kinh tế bên ngoài. Phần hai của đề tài sẽ trình bày về triển vọng năm 2009.

Những bất ổn vĩ mô trong năm 2008, theo ông Tự Anh, bắt nguồn từ nguyên nhân lạm phát cao, và điều này xuất phát từ tăng trưởng cung tiền và tăng trưởng tín dụng cao ở mức chưa từng thấy. Một bất ổn khác là nền kinh tế bong bóng; nền kinh tế chủ yếu dựa vào đầu tư trong khi năng lực quản lý nhà nước còn yếu kém.

Chỉ số giá bất động sản theo sát chỉ số tăng trưởng tín dụng, do khi tín dụng tăng trưởng không được đưa vào sản xuất mà chủ yếu vào đầu cơ bất động sản và chứng khoán. Như vậy, lạm phát là do các yếu tố bên trong của Việt Nam chứ không phải do ảnh hưởng chính từ tình hình bên ngoài.

Mức tăng trưởng trung bình của nền kinh tế Mỹ từ 2002 đến 2007 là 2%, nhưng bắt đầu từ năm 2008 và đến quí 1-2009 này đã ghi nhận mức tăng trưởng âm. Tỷ lệ thất nghiệp ngày một tăng cao, với số lượng việc làm mất đi trung bình 600.000 việc làm/tháng.

Nền kinh tế Mỹ suy thoái kéo theo sự khủng hoảng thị trường bất động sản, tính đến tháng 1-2009, chỉ số thị trường bất động sản Mỹ đã sụt giảm 50%, cộng thêm thị trường chứng khoán sụt giảm mạnh trong những tháng qua đã tác động trực tiếp đến tài sản và thu nhập của người dân Mỹ. Điều này dẫn đến việc niềm tin của người tiêu dùng sụt giảm (giảm đến mức thấp nhất trong vòng 20 năm qua). Người tiêu dùng Mỹ cắt giảm chi tiêu và đã ảnh hưởng trực tiếp đến những quốc gia có nền kinh tế dựa vào xuất khẩu như Việt Nam.

Không khác Mỹ, khu vực EU cũng có mức tăng trưởng âm trong đầu năm nay, như trong tháng 1 âm khoảng 1,2%. Kinh tế của khu vực EU suy thoái thì cũng ảnh hưởng tương tự như ở Mỹ.

Trong khi đó, tại Nhật Bản, thất nghiệp tăng khoảng 4%. Nhật duy trì được tỷ lệ thất nghiệp không cao, nhưng tỷ lệ thiếu việc làm thì cao, tức là lao động không làm hết các giờ trong ngày. Cũng như các nước khác, chỉ số chứng khoán Nhật giảm khoảng 50% trong vòng 1 năm.

Sản lượng công nghiệp giảm mạnh trong 3 khu vực này. Chỉ trong vòng 2 năm, ở Nhật giảm 31%, EU giảm 12%, Mỹ giảm 11,2%.

Tại Trung Quốc, tăng trưởng theo quí cũng giảm, quí 4 năm 2008 còn 6,8%, mức thấp nhất và ngày càng đi xuống. Tỷ lệ thất nghiệp tại các đô thị là 9,1%. Xuất khẩu Trung Quốc năm 2008 giảm 20% so với cùng kỳ năm 2007. 

Tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh – Giám đốc nghiên cứu Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright tại Việt Nam – Ảnh: LÊ TOÀN

Từ khủng hoảng tài chính Mỹ đã ảnh hưởng đến khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Theo dự báo của IMF, trong năm 2009 có thể nền kinh tế toàn cầu gần như không tăng trưởng (mức tăng trưởng chỉ 0,5%).

Ông Tự Anh cho rằng tác động đối với kinh tế Việt Nam (2009 so với 2008) đã xuất hiện những dấu hiệu rõ nét, khi kim ngạch xuất khẩu giảm (vì nhu cầu giảm, giá giảm), đầu tư nước ngoài giảm, nguồn thu ngoại tệ từ du lịch giảm, kiều hối giảm…

Bên cạnh đó là nguy cơ về tăng thâm hụt ngân sách, trong khi những nguồn thu chính của ngân sách (chiếm 70%) đến từ xuất khẩu dầu thô, thuế (thuế VAT, thuế TNDN, thuế thu nhập cá nhân) lại sụt giảm. Dự báo thâm hụt ngân sách của Việt Nam năm nay khoảng 10%.

Tác động đối với môi trường kinh doanh được thể hiện qua việc vốn đầu tư trực tiếp sụt giảm, khu vực kinh tế dân doanh cũng giảm mạnh. Các tổ chức quốc tế liên tục đưa ra những dự báo mới điều chỉnh giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong thời gian gần đây. Trong khi Chính phủ điều chỉnh mục tiêu tăng trưởng kinh tế trong năm 2009 từ mức 6,7% (dự báo hồi năm 2008) xuống  6,5% thì WB đã điều chỉnh từ mức tăng trưởng 6,5% xuống 5,5%, ADB điều chỉnh từ 6,3% xuống 5,5%, IMF điều chỉnh từ 6,25% xuống 5% và 4,75%; trong đó, phải kể đến việc EIU điều chỉnh từ 6,1% xuống còn 4,3%, 3% rồi vào tháng 3-2009 con số được đưa ra là 0,3%.

Đề cập đến chính sách kích thích kinh tế, ông Tự Anh cho rằng, những chính sách về giãn, giảm thuế hiện nay nhằm giảm bớt khó khăn cho doanh nghiệp, thế nhưng, lại kéo theo một hệ quả là nguồn thu ngân sách từ thuế ngày càng bị thu hẹp. Điều này phần nào đẩy chính phủ vào tình thế khó khăn trong việc làm thế nào để giảm bớt khoảng cách thâm hụt ngân sách, quản lý chặt chẽ chi tiêu công. Bên cạnh đó, việc điều hành chính sách tiền tệ cũng là một thách thức lớn, cụ thể là giữ vững đồng tiền Việt Nam không bị mất giá.

Cho đến nay vẫn không tìm được cụ thể số liệu số tiền đã bơm vào đâu trong nền kinh tế. Bộ Tài chính và Bộ Kế hoạch Đầu tư nên làm việc này. Ngân hàng Nhà nước không nên thực hiện các hoạt động tài khóa vì nhiều nước đã thất bại khi thực hiện hoạt động như vậy. Số liệu giải ngân từ chương trình bù lãi suất là 144 nghìn tỉ đồng, nếu đi vào sản xuất thì chiếm 12%, nhưng con số hiện nay chỉ là hơn 4%. Con số này chắc chắn có thể do đảo nợ, tiền quay lại ngân hàng.

Chuyên gia Tài chính Ngân hàng Lê Trọng Nhi – Ảnh: LÊ TOÀN

Chuyên gia Lê Trọng Nhi mở đầu phần trình bày đề tài “Lành mạnh hóa tài chính công ty” bằng câu hỏi đặt ra cho các khách mời tham dự buổi tọa đàm: “Ngày hôm nay (24-3), thị trường tiền tệ, thị trường chứng khoán Việt Nam bắt đầu hoạt động với một yếu tố mới gì?”

Ông Nhi giải đáp câu hỏi của mình bằng việc đề cập đến quyết định cho phép nới rộng biên độ tỷ giá giữa đô la Mỹ và đồng Việt Nam (từ +/-3% lên +/-5%), với kỳ vọng sẽ có một sự thay đổi lớn, và chính những thay đổi của chính sách cùng dòng thời sự sẽ buộc bản thân mỗi doanh nghiệp phải nhanh nhạy để có những điều chỉnh, thay đổi theo. “Chính sự thay đổi về nôi tại bên trong của mỗi doanh nghiệp sẽ quyết định rằng doanh nghiệp có thể tiếp tục sống sót hay không”, ông nói.

Nền kinh tế Việt Nam đang đi giữa “vùng chập chờn” (vùng nằm giữa kinh tế vĩ mô ổn định và kinh tế vĩ mô bất ổn định) trong bối cảnh kinh tế toàn cầu suy thoái đang tác động mạnh đến Việt Nam, đặt những nhà quản lý kinh tế vĩ mô vào trong “bài toán hóc búa”, vừa phải giải quyết lạm phát, giảm phát và cả khủng hoảng kinh tế.

Tổ chức CLSA cho là tăng trưởng GDP của Việt Nam là 2,6%, nhiều tổ chức đưa ra nhiều con số khác nhau, nhưng đều tăng trưởng ở mức thấp.

Ông Nhi cho rằng chưa thể tiên liệu được chu kỳ kinh tế của Việt Nam từ nay đến 2015, do có rất nhiều biến cố phía trước.

Ông đưa ví dụ từ năm 2008 đến nay dòng tiền và cơ cấu nguồn vốn đã có nhiều thay đổi do chính sách tiền tệ, tài khóa thay đổi. Vấn đề lớn nữa là Việt Nam đang sử dụng ba loại tiền: vàng, đô la Mỹ, đồng Việt Nam. Ngân hàng Nhà nước đang điều hành kinh tế với ba loại tiền tệ chạy đan xen, việc giải bài toán ổn định tiền tệ rất khó.

Về vấn đề tín dụng, trong 2005 – 2007 tín dụng tăng mạnh, chủ yếu là vào bất động sản và chứng khoán, đến tháng 6-2008 Ngân hàng Nhà nước bắt đầu thắt chặt lại. 

Trong tuần qua, thông tin trên các phương tiện truyền thông cho biết hơn 7.000 doanh nghiệp vừa và nhỏ đã phá sản, nhưng nhiều chuyên gia cho rằng con số trong thực tế có thể cao hơn nhiều. Bên cạnh đó, các công ty lớn – bao gồm nhiều công ty nhà nước, cũng đứng trước nguy cơ ngừng hoạt động.

Ông Nhi phân tích, những khó khăn của doanh nghiệp, ngoài các yếu tố bên ngoài như lạm phát cao trong năm 2007 – 2008, khủng hoảng kinh tế – tài chính toàn cầu, thì bản thân những khó khăn nội tại bên trong cũng rất nguy hiểm, đến từ việc vốn ít, năng lực (quản lý, nhân sự) yếu kém và đã thực hiện các chiến lược đầu tư trật nhịp.

Một yếu tố khác đã tạo nên những khó khăn nội tại cho doanh nghiệp trong nước chính là việc các tiêu chuẩn về kiểm toán chưa được áp dụng minh bạch, chặt chẽ và bài bản tại Việt Nam. 

Ông Nhi cũng cho rằng quan hệ giữa công ty và ngân hàng đã thay đổi, nhiều công ty đã chọn ngân hàng khác trong năm qua khi lãi suất liên tục điều chỉnh. Sự thay đổi này sẽ khiến doanh nghiệp và ngân hàng phải thay đổi chính mình để phù hợp.

Doanh nghiệp cũng nên xác định chiến lược đầu tư đúng đắn hơn. Trong năm qua, nhiều công ty đã tập trung nhiều vào đầu tư tài chính, REE cũng vậy, đầu tư tài chính hơn 700 tỉ đồng, đã phải trích lập dự phòng hơn 400 tỉ đồng khiến kết quả kinh doanh năm 2008 lỗ. Mai Linh đầu tư vào đến hơn 100 công ty con và cũng có kết quả kinh doanh lỗ… Bên cạnh đó, những chiến lược đầu tư cần rõ ràng, minh bạch để có sự tin tưởng của nhà đầu tư. 

Đề cập đến những khó khăn của nền kinh tế nói chung và thị trường tài chính nói riêng, ông Nhi đặt vấn đề các cơ quan chức năng cần tiên liệu được hiệu quả cũng như hệ quả của những chính sách kích thích kinh tế, chính sách tài khóa và tiền tệ liên tục được ban hành trong thời gian qua.

Ông Nhi dẫn chứng về những bất hợp lý đang cùng tồn tại, ví dụ như nhiều công ty chứng khoán thua lỗ phải xoay xở kiếm thêm từ sàn vàng và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã phải quy định các công ty chứng khoán không được tiếp tục mở sàn vàng; Ngân hàng Nhà nước không cho phép doanh nghiệp sử dụng vốn vay hỗ trợ lãi suất để trả nợ cũ (đảo nợ) nhưng trong thực tế tình trạng này đang diễn ra…

Trong bản thân mỗi doanh nghiệp cũng sẽ phải thay đổi kế hoạch, chiến lược sản xuất, đầu tư, kinh doanh như thế nào? Trước hết, cần xác định vai trò quan trọng trong kiểm soát tài chính của mỗi doanh nghiệp. Mỗi đồng vốn doanh nghiệp bỏ ra, cần phải xác định 4 yếu tố: hoạt động tài chính, kiểm soát tài chính, quản lý rủi ro, hiệu quả tài chính. Tiếp đó, mỗi doanh nghiệp cần nâng cao khả năng thích ứng của mình đối với những biến động của nền kinh tế bên ngoài, và mạnh dạn cải tổ tài chính doanh nghiệp.

Khách mời đang đặt câu hỏi  – Ảnh: LÊ TOÀN

Ông Nguyễn Hoàng Dũng, giảng viên kinh tế, đặt ra một số vấn đề thảo luận liên quan đến nguồn cung tiền trong gói kích cầu của Chính phủ, bao gồm cơ sở nào để tính toán số tiền bơm cho hoạt động sản xuất, kinh doanh; nguồn tiền ở đâu ra; tiền hỗ trợ cho những đối tượng nào…

Ông Dũng cũng đề cập đến một vấn đề khác là chỉ số VNI-Index liên tục sụt giảm, nhưng trong thực tế thì tình hình hoạt động của các công ty niêm yết có vẻ vẫn bình thường, không quá bi đát. Bên cạnh đó, vấn đề đằng sau các doanh nghiệp niêm yết thua lỗ trong năm 2008 là gì, vì bản thân mỗi doanh nghiệp có một đội ngũ tư vấn chiến lược và có địa chỉ đầu tư rõ ràng nhưng tại sao vẫn thua lỗ?

Chia sẻ câu hỏi của ông Dũng liên quan đến việc thua lỗ của một số công ty niêm yết, ông Nhi cho rằng vấn đề ở đây của các doanh nghiệp là họ đã đầu tư trật nhịp, ví dụ như doanh nghiệp sản xuất nhưng lại đổ vốn quá nhiều vào đầu tư chứng khoán và bất động sản. “Vấn đề cơ bản của các trường hợp thua lỗ này là doanh nghiệp đã sai nguyên tắc sử dụng vốn”. 

Theo ông Vũ Thành Tự Anh thì gói kích cầu này không ai có câu trả lời chính xác là tiền chảy vào đâu, số lượng hiện tại đã chi là bao nhiêu, cần bao nhiêu tiền để kích thích nền kinh tế. Ông phân tích, tháng 11, chính phủ đưa ra gói kích cầu là 1 tỉ đô la Mỹ. Sau đó trong một hội nghị, phó thủ tướng khẳng định gói này là 6 tỉ đô la. Nhưng đến nay thì không biết bao nhiêu nhưng dù sao thì ai cũng mong muốn là 6 tỉ đô la.

Nếu so sánh kinh nghiệm thế giới thì gói này trên dưới 2% của GDP, chỉ có Mỹ và Trung Quốc có tiềm năng ngân sách lớn nên đưa ra những gói lớn hơn. Nhưng nhìn kỹ gói kích thich của Trung Quốc là không phải gói kích thích. Chỉ là những khoản tiền đã có dự định chi, việc công bố gói kích thích lớn chỉ để có tác động tâm lý tốt đến người dân.

Trong khi đó, Việt Nam thâm hụt ngân sách, theo như IMF là 7% năm 2007, năm 2008 có thể là 10 – 12%, dự trữ ngoại hối lại thấp nhất khu vực. Như vậy thâm hụt thương mại, ngân sách, dự trữ ngoại hối thấp nên rất khó để thực hiện việc chi một khoản tiền quá lớn cho gói kích cầu.

Ai kiểm soát, ai đánh giá hiệu quả gói kích cầu? Tiền là tiền thuế của dân nên phải thông qua quốc hội số tiền đến 6 tỉ đô la, nhưng Việt Nam không làm việc này. Làm thế nào để tăng sản xuất, tạo việc làm là mục tiêu của gói kích cầu nhưng như số liệu đã công bố thì tiền chủ yếu là đưa vào lại ngân hàng qua việc đảo nợ. Trong số liệu đã giải ngân thì đến 80% là do các ngân hàng thương mại nhà nước. Như vậy, có thể biết tiền vào đâu nhưng Bộ Tài chính không hề công bố con số là tiền đã đi về đâu.

Kết quả sản xuất kinh doanh, việc làm tạo ra? Không có ai công bố những con số cụ thể này. 

Dựa trên những phân tích về hiệu quả gói kích cầu của chính phủ các nền kinh tế phát triển (như Mỹ, EU, Nhật Bản…) thì con đường quay trở lại sự phục hồi sẽ còn dài, không phải một sớm một chiều, và theo ông Tự Anh thì điều này tác động rất lớn đến sự phục hồi của nền kinh tế Việt Nam.

Bản thân nền kinh tế Việt Nam là một nền kinh tế nhỏ, thực lực có hạn, lại dựa chủ yếu vào xuất khẩu và nguồn vốn đầu tư nước ngoài, nên rất khó có thể quay về với sự phục hồi trong năm 2009 này, ông Tự Anh nói và cho biết quan điểm riêng của ông là thời điểm đó có thể là giữa năm 2010 trở đi.

Ông Tự Anh phân tích một khi nền kinh tế Mỹ, EU và Nhật Bản (các thị trường chiếm hơn 60% xuất khẩu của Việt Nam) vẫn chưa phục hồi hoàn toàn trong năm 2009 thì nguồn thu từ xuất khẩu của Việt Nam trong năm nay vẫn tiếp tục sụt giảm. Bên cạnh đó, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) hiện đang đóng góp 20% vào GDP, và vốn đầu tư từ nguồn hỗ trợ chính thức (ODA) là 40%, điều này có nghĩa là nền kinh tế thế giới vẫn khủng hoảng thì động lực tăng trưởng cho nền kinh tế Việt Nam cũng yếu theo.

Trước khó khăn hiện nay thì doanh nghiệp phải đối phó như thế nào?, ông Trần Hoàng Bảo, Tổng giám đốc công ty dịch vụ thương mại, xuất nhập khẩu BNP, cho biết ông cảm thấy “choáng” khi có tin nới biên độ tỷ giá. Năm ngoái, ông đã phải trích lập dự phòng rủi ro tỷ giá  hết 10% vốn của doanh nghiệp. Thường thì tỷ giá đến cuối năm mới thay đổi, nhưng hiện nay thay đổi đột ngột nên doanh nghiệp rất khó phản ứng. Năm ngoái đã “đau” do vấn đề này rồi, năm nay còn khó khăn hơn.

Ông Bảo cho biết, phản ứng của doanh nghiệp ông khi Ngân hàng Nhà nước nâng biên độ tỷ giá là ông tính phải trả nợ đô la cho ngân hàng để tránh có thêm rủi ro và nghĩ ngay đến trích lập dự phòng rủi ro tỷ giá trong thời gian tới. Bên cạnh đó, doanh nghiệp ông cũng phải cắt giảm chi phí, và phải tìm cách quang bá thương hiệu với ít chi phí hơn để vẫn có thể tiêu thụ được hàng hóa.

Bà K.T kể câu chuyện của doanh nghiệp mình – một doanh nghiệp chuyên nhập khẩu thiết bị phục vụ công nghiệp điện. Bà nói, ngày hôm nay (24-3) đang phải xoay xở với những khó khăn liên quan đến chính sách nới rộng biên độ tỷ giá. Bà chia sẻ rằng doanh nghiệp mình đang đối mặt với những khoản chi phí tăng lên khi mà chỉ trong một buổi sáng nay, tỷ giá thay đổi liên tục trong mức 18.000 đồng đến trên 19.000 đồng/đô la Mỹ (tỷ giá Vietcombank niêm yết là 17.700 đồng/đô la Mỹ), trong lúc bà đã ký hợp đồng mở L/C nhập khẩu thiết bị với tỷ giá là 16.500 đồng/đô la Mỹ.

Bên cạnh đó, trong nội bộ công ty, bà đang phải giải quyết tình trạng khó khăn về nhân sự vì nhiều nhân viên liên tục xin nghỉ việc.

Chia sẻ câu chuyện với bà K.T, chuyên gia Lê Trọng Nhi khuyên rằng doanh nghiệp khi ký hợp đồng với đối tác, cần chốt giá ngay tại thời điểm ký hợp đồng, và cần trích một khoản quỹ dự phòng cho những tình huống khó khăn, cụ thể là việc tỷ giá thay đổi. Đối với doanh nghiệp của bà K.T, giải pháp trước mắt là đàm phán lại với đối tác về chi phí phát sinh, hoặc giãn thời hạn thanh toán. Tiếp đó, ông Nhi cho rằng bà K.T nên trao đổi trực tiếp cùng các nhân viên về việc tiết giảm chi phí hoạt động, trong đó bao gồm cả việc giảm lương (nếu bà không muốn sa thải nhân công).

Mặc dù còn nhiều ý kiến trao đổi cũng như những bức xúc được doanh nghiệp tiếp tục đặt ra trước những khó khăn hiện nay nhưng với thời gian có hạn nên nhà báo Quốc Vĩnh – người chủ trì – đã xin phép kết thúc buổi tọa đàm. Sau ba tiếng đồng hồ trao đổi, buổi tọa đàm đã kết thúc lúc 5 giờ chiều ngày 24-3.

Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

Tin liên quan

Có thể bạn quan tâm

Tin mới