Quanh cái bàn tròn Paris
Trung Nhân
(TBKTSG) - Với lịch sử thế giới hiện đại, chiến tranh Việt Nam (1954-1975) là một trong mươi cuộc chiến tranh lớn nhất. Vì vậy, khi hội nghị Paris được nhóm họp nhằm chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam thì ngay lập tức nó trở thành một thỏi nam châm thu hút cao độ sự quan tâm của dư luận thế giới, làm tốn thật nhiều giấy mực, phim ảnh... trong một thời gian dài.
“Đây có lẽ là cuộc đàm phán dài nhất trong lịch sử thế giới, bắt đầu tháng 11-1968, kết thúc ngày 27-1-1973. Khi rời Hà Nội lên đường cuối tháng 10-1968, tôi không ngờ nó sẽ kéo dài đến thế”. Trong cuốn hồi ký xuất bản năm 2012 của mình(*), bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Trưởng đoàn đàm phán của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tại hội nghị Paris, kể rằng ngay từ đầu cuộc họp trù bị đã phải trì hoãn, mà một trong những lý do là thuộc vấn đề thủ tục.
“Trong lịch sử đấu tranh ngoại giao thế giới chưa bao giờ lại có kiểu bắt đầu đặc biệt như vậy: trước tiên là đấu tranh về cái bàn”, bà Nguyễn Thị Bình cho biết.
Phải đấu tranh, bởi vì hình thù và cách phân chia chỗ ngồi ở cái bàn cũng chính là xác nhận tính chất pháp nhân của các bên đàm phán. Bấy giờ, ông Xuân Thủy, Trưởng đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nêu rõ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam là đại diện cho nhân dân miền Nam đang trực tiếp chống Mỹ nên đương nhiên phải là một bên đàm phán.
Đại sứ Harriman, Trưởng đoàn Mỹ, lại cho rằng Mặt trận là người của miền Bắc, là “cộng sản” muốn lật đổ “quốc gia” ở miền Nam, còn ta nói chính quyền Sài Gòn là do Mỹ dựng lên, là tay sai của Mỹ. Bà Bình kể tiếp: “Cuộc đấu tranh “bốn bên hay hai bên” có ý nghĩa chính trị rất quan trọng.
Chúng ta yêu cầu một cái bàn vuông cho bốn bên đàm phán hoặc một cái bàn tròn có bốn góc. Mỹ đòi một cái bàn chữ nhật có hai bên hoặc một cái bàn tròn chia đôi... Sau cùng đi đến thống nhất sẽ là một cái bàn tròn to đường kính 8 mét, cắt đôi, trải khăn bàn màu xanh, mỗi bên có một vạch phân chia nằm bên ngoài, như vậy ai hiểu là hai bên hay bốn bên cũng được.
Phía Mỹ và chính quyền Sài Gòn ngồi sát nhau như một bên, còn phía ta đoàn Mặt trận và đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngồi thành hai đoàn riêng biệt. Đối với dư luận, cách ngồi của Mỹ và chính quyền Sài Gòn là không có lợi cho họ, có thể thấy rõ chính quyền Sài Gòn là tay sai của Mỹ, làm sao mà đại diện được cho nhân dân miền Nam?” (*).
Sau khi chọn xong hình thù cái bàn họp, những người ngồi vào quanh đó đã phải làm việc với tinh thần bền bỉ, dẻo dai như thế nào, nhiều tài liệu lịch sử đã ghi lại. Do sách lược mỗi bên, đồng thời do bên nào cũng muốn bảo vệ lập trường và tranh thủ lợi ích của mình, cuộc hòa đàm phải kéo dài dai dẳng... Nhưng rồi kết cục diễn ra trên thực tế ra sao, từ sau tháng 4-1975 đến nay thiên hạ càng thêm tỏ tường qua những gì được các bên “bạch hóa”.
Người ta từng nghe rằng, hội nghị Paris nhằm chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam gặp nhiều phen bế tắc phải kiên trì tháo gỡ là do bên này thì “kiên định lập trường trước sau như một” còn bên kia cứ “nhai đi nhai lại luận điệu cũ rích”.
Song đó là nói theo ngôn ngữ của các nhà ngoại giao và tuyên truyền. Còn ngôn ngữ của các nhà kinh doanh đồ mộc (bây giờ ta quen gọi các mặt hàng này theo tiếng Anh là furniture) thì giản dị hơn và rất chi... tương đồng. Xin dẫn chứng một chi tiết diễn ra bên lề cuộc đấu tranh về cái bàn họp nói trên: “Có điều vui là đoàn đồng chí Xuân Thủy đã nhận được nhiều mẫu bàn của các hãng làm đồ mộc nổi tiếng thế giới gửi đến chào hàng. Chắc đoàn Harriman cũng nhận được như vậy” (*).
Vâng, một chi tiết rất thị trường, nó nhạy bén xuất hiện trong cái “chiến trường ngoại giao” nổi tiếng gay go phức tạp vừa đánh vừa đàm đang được giới truyền thông cả thế giới chú mục vào lúc ấy. Chi tiết này nếu bà Nguyễn Thị Bình là người trong cuộc không nói ra thì những ai “ngoài ngành” có lẽ không hay biết.
(*) Gia đình, bạn bè và đất nước, sách do NXB Tri Thức in năm 2012.






