Thứ Ba, 25/01/2022, 05:23
25 C
Ho Chi Minh City

Đặt báo in

Thông tin quảng cáo

Thông tin quảng cáo

Quy hoạch và định hướng: Nói rồi, nói lại…

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

Quy hoạch và định hướng: Nói rồi, nói lại…

Hồng Văn

Nông dân Cần Giờ thu hoạch tôm sú. TPHCM muốn Cần Giờ và Nhà Bè đưa diện tích nuôi tôm, cá nước lợ lên hơn 7.000 héc ta vào năm 2010, thực tế hiện nay chỉ 2.000 héc ta-Ảnh: Hồng Văn.

(TBKTSG Online) – Hơn chục năm qua, hàng loạt ngành nghề, lĩnh vực, các tập đoàn kinh tế… đều lập quy hoạch, định hướng phát triển tới năm 2005 hoặc tới năm 2010 có tính tới năm 2015. Nhưng phần nhiều các quy hoạch định hướng này tới giờ xem như không hoàn thành. Và cứ thế, các ngành, các tập đoàn vẫn đang tiếp tục định hướng, quy hoạch tới năm 2015 hay 2020…

Tôm cá: kế hoạch khác xa thực tế

Năm 2004, con cá tra, rồi tới con tôm sú Việt Nam bị áp thuế chống bán phá giá khi xuất vào thị trường Mỹ đã khiến cho xuất khẩu thủy sản có lúc gặp khó khăn. Cũng thời gian này, thị trường thế giới lại tiêu thụ mạnh con cá rô phi nhưng khi ấy Việt Nam hàng năm mới chỉ nuôi được 50.000 – 60.000 tấn cá này, chủ yếu cung cấp cho thị trường nội địa, còn chế biến xuất khẩu gần như không đáng kể.  

Lúc đó, Viện Kinh tế và quy hoạch thủy sản thuộc Bộ Thủy sản cũ (nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) lập ra định hướng phát triển cá rô phi đầy tham vọng, khi cho rằng tới năm 2010, sản lượng cá rô phi ở Việt Nam sẽ đạt ít nhất 200.000 tấn, trong đó một nửa dành cho chế biến xuất khẩu, thu về 160 triệu đô la Mỹ mỗi năm.

Còn giờ đây, chẳng thấy ai đề cập nhiều tới con cá này nữa, thậm chí có chuyên gia ngành thủy sản còn cho biết sản lượng cá rô phi hiện nay chẳng tăng bao nhiêu so với 5-6 năm trước.

Khi Cần Giờ, Nhà Bè ở TPHCM phát triển nuôi thủy sản nước lợ (chủ yếu là tôm sú), có lúc diện tích nuôi tôm lên hơn 2.000 héc ta, khi ấy Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn TPHCM đã quy hoạch phát triển nuôi trồng thủy sản tới năm 2010 lên đến 7.000 héc ta. Thực tế đến thời điểm này đã chứng minh kế hoạch trên không thể khả thi.  

Trong khi đó, theo quy hoạch của ngành thủy sản tới năm 2010 thì sản lượng cá tra, cá ba sa ở ĐBSCL đạt 1 triệu tấn; còn thực tế, đến năm 2008 sản lượng đã vượt hơn 1 triệu tấn, tới mức ngành thủy sản cảnh báo phải giảm sản lượng vì lo ngại nuôi nhiều sẽ gây ô nhiễm trường, không tiêu thụ hết sẽ có nguy cơ tạo nên các đợt biến động giá gây bất lợi cho nông dân.  

Bông vải, mía đường lỡ hẹn  

Cả diện tích mía và sản lượng đường đều không đạt kế hoạch đề ra của Chính phủ-Ảnh: Hồng Văn.

Hơn chục năm qua, ngành dệt may Việt Nam tăng trưởng vượt bậc, trở thành một trong những ngành xuất khẩu chủ lực thì “người anh em song hành” với nó là cây bông vải – cung cấp nguyên liệu trong nước – ngày càng lụi tàn.

Đầu những năm 2000, khi diện tích cây bông vải phát triển ồ ạt, lên tới hơn 30.000 héc ta, lúc đó Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã quy hoạch diện tích bông vải cả nước tới năm 2010 lên đến 230.000 héc ta, sản lượng bông xơ thu hoạch gần như đủ tự túc cho ngành công nghiệp dệt mà không cần nhập khẩu.  

Nay, diện tích bông vải giảm dần, xuống còn 5.000 – 10.000 héc ta, khiến từ chỗ tự túc được 10% nguyên liệu bông xơ cho dệt may thì nay chỉ còn 3 -5%.

Năm 2008, khi cây bông vải đang lụi tàn, Bộ Công Thương đã tham mưu cho Chính phủ ban hành quyết  định số 36/2008 phê duyệt chiến lược phát triển ngành dệt may Việt Nam đến 2015, định hướng đến 2020, trong đó có chương trình phát triển cây bông vải. Mục tiêu được đề ra là năm 2010 đạt 20.000 tấn bông xơ, có nghĩa phải có 30.000 – 40.000 héc ta bông nhưng năm 2009 vừa qua, diện tích bông vải cả nước chỉ có 8.000 héc ta. Kế hoạch đặt ra cho cây bông vải trong năm nay xem như thất bại hoàn toàn.  

Tương tự cây bông vải là cây mía đường. Theo quy hoạch phát triển mía đường mà Chính phủ ban hành năm 2007 thì tới năm 2010, Việt Nam sản xuất được 1,5 triệu tấn đường. Kế hoạch này xem ra khó khả thi, bởi với diện tích, năng suất đều giảm và hai năm qua, mỗi năm 40 nhà máy đường chỉ sản xuất 1,2 triệu tấn đường, Bộ Công Thương phải cấp hạn ngạch cho các nhà máy sữa, bánh kẹo nhập khẩu đường.

Ồ ạt trồng cao su  

Ồ ạt trồng cao su nhưing vẫn không đạt kế hoạch quá tham vọng, phải điều chỉnh khiêm tốn hơn-Ảnh: Hồng Văn.

Cây cao su cũng không phải là ngoại lệ. Bốn năm trước, khi Tổng công ty Cao su Việt Nam chuyển đổi thành Tập đoàn công nghiệp cao su (VRG), đã đặt ra chỉ tiêu tới năm 2010, cả nước có 1 triệu héc ta cao su (lúc ấy cả nước chỉ có 600.000 héc ta). Riêng tập đoàn này, từ chỗ xuất khẩu mủ cao su chiếm 60 – 70% doanh thu thì hy vọng tới năm 2010, tăng cường đầu tư cho công nghiệp chế biến để mủ cao su giảm xuống còn 40% trong cơ cấu doanh thu.

Mấy năm qua, VRG phát động chiến dịch trồng cao su, đưa cao su lên trồng ở vùng núi biên giới phía Bắc, ồ ạt mở rộng diện tích cao su ở Tây Nguyên, các tỉnh duyên hải Miền Trung… Nay diện tích cao su, kể cả đầu tư trồng ở Lào hay Campuchia tính gộp vào vẫn chưa tới 700.000 héc ta, xuất khẩu mủ cao su vẫn là chủ lực; còn tập đoàn thì đầu tư ngoài ngành hàng chục dự án từ thủy điện, gỗ, khách sạn, khu công nghiệp, thậm chí là chứng khoán, ngân hàng.

Có lẽ kế hoạch nói trên hơi quá đà, nên VRG đã cùng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xây dựng lại chiến lược tới năm 2020, khiêm tốn hơn: nâng diện tích trong 10 năm tới lên 800.000 héc ta cao su.

Trong chục năm qua, nhiều bộ ngành đều xây dựng quy hoạch định hướng phát triển tới năm 2010, nhưng trong hai năm trở lại đây, họ xây dựng lại kế hoạch cho tới năm 2020 theo hướng khiêm tốn hơn, ít tham vọng hơn và không hề đả động gì tới quy hoạch, định hướng cũ.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

Có thể bạn quan tâm

Tin mới