(KTSG) - Từ sắc tím của ube đến giá trị “quốc bảo” của sâm Ngọc Linh, việc bảo hộ chỉ dẫn địa lý (CDĐL) không chỉ là câu chuyện pháp lý, mà là hành trình biến một sản vật địa phương thành thứ mà thị trường thực sự khao khát.
- Từ khoai mỡ ube đến sâm Ngọc Linh - Phần 2: Không thể phát triển theo logic đại trà
- Nước mắm Nam Ô nhận bằng bảo hộ chỉ dẫn địa lý
Theo bài viết Tím ube tiếp tục ‘gây bão’, thay thế dần xanh matcha? của tác giả Ricky Hồ đăng trên Kinh tế Sài Gòn số 14-2026 ngày 2-4-2026, trong những năm gần đây, “ube” - loại khoai mỡ tím đặc trưng của Philippines - bất ngờ trở thành một hiện tượng ẩm thực toàn cầu.
Từ đồ uống, bánh ngọt đến các sản phẩm chế biến, sắc tím của ube xuất hiện dày đặc trong các chuỗi F&B quốc tế và trên mạng xã hội. Điều đáng chú ý là Việt Nam cũng là một quốc gia có sản lượng khoai mỡ xuất khẩu lớn cùng với Trung Quốc. Thậm chí sản phẩm khoai mỡ Bến Kè của huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An cũ, nay là tỉnh Tây Ninh, đã được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) dưới hình thức CDĐL vào năm 2022. Tuy nhiên, Việt Nam gần như đứng ngoài làn sóng này.

Một trường hợp tương tự nhưng ở quy mô thành công hơn là sản phẩm matcha của Nhật Bản. Matcha được chuẩn hóa nghiêm ngặt về quy trình sản xuất, kiểm soát chất lượng và gắn chặt với bản sắc văn hóa Nhật Bản, từ đó trở thành một biểu tượng quốc gia và một sản phẩm có giá trị kinh tế cao trên toàn cầu, được ví như một loại “vàng xanh”.
Ở một thái cực khác, sâm Ngọc Linh vốn được mệnh danh là “quốc bảo” của Việt Nam, đã được bảo hộ CDĐL năm 2016 và được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2025. Tuy nhiên, sau 53 năm kể từ ngày được tìm thấy, sản phẩm này vẫn đang đối mặt với nhiều thách thức về thị trường, niềm tin tiêu dùng và tình trạng hàng giả(1).
Ba câu chuyện này đặt ra một vấn đề đáng suy ngẫm: liệu việc được bảo hộ CDĐL đã đủ để tạo ra giá trị kinh tế hay chưa?
CDĐL: Tiêu chuẩn cao của pháp luật SHTT, nhưng không phải là đích đến cuối cùng
Trong hệ thống pháp luật về quyền SHTT, CDĐL là một trong những đối tượng có điều kiện bảo hộ khắt khe nhất. Khác với nhãn hiệu, CDĐL không chỉ là dấu hiệu nhận diện mà phải chứng minh được hai điều kiện: (1) Sản phẩm mang CDĐL có nguồn gốc địa lý từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc quốc gia tương ứng với CDĐL; và (2) Sản phẩm mang CDĐL có danh tiếng, chất lượng hoặc đặc tính chủ yếu do điều kiện địa lý của khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc quốc gia tương ứng với CDĐL đó quyết định.
Theo Luật SHTT Việt Nam hiện hành, hồ sơ đăng ký CDĐL đòi hỏi một Bản mô tả tính chất đặc thù bao gồm các thông tin chi tiết về: (i) Tính chất, chất lượng đặc thù của sản phẩm mang CDĐL do điều kiện địa lý quyết định - được xác định bằng các chỉ tiêu cảm quan, định tính, định lượng về vật lý, hóa học, sinh học. Các chỉ tiêu này phải được xác định và có khả năng kiểm tra được bằng phương tiện kỹ thuật hoặc bằng chuyên gia theo tiêu chuẩn lấy mẫu và một phương pháp thử xác định;
(ii)Danh tiếng của sản phẩm mang CDĐL do điều kiện địa lý quyết định được xác định thông qua sự biết đến sản phẩm đó một cách rộng rãi và lựa chọn sản phẩm đó trong giới tiêu dùng liên quan, có khả năng kiểm chứng được; (iii) Khu vực địa lý; (iv) Điều kiện địa lý tạo nên tính chất, chất lượng đặc thù, danh tiếng của sản phẩm mang CDĐL, bao gồm các yểu tổ về khí hậu, thủy văn, địa chất, địa hình, hệ sinh thái và các điều kiện tự nhiên khác; các yếu tố về kỹ năng, kỹ xảo của người sản xuất, bao gồm cả quy trình sản xuất truyền thống của địa phương; (v) Mối quan hệ hữu cơ giữa tính chất, chất lượng đặc thù, danh tiếng của sản phẩm mang CDĐL với điều kiện địa lý;
Thông tin về cơ chế tự kiểm tra các tính chất, chất lượng đặc thù của sản phẩm.
Đáng chú ý, trong lần sửa đổi gần nhất vào năm 2025 và chính thức có hiệu lực từ ngày 1-4-2026, Luật SHTT Việt Nam và Nghị định, Thông tư hướng dẫn tiếp tục hoàn thiện các quy định về CDĐL theo hướng tăng cường tính thực chất và độ tin cậy khoa học trong việc xác lập quyền đối với CDĐL.
Cụ thể, pháp luật đã bổ sung cơ chế xử lý trường hợp chưa có tổ chức thử nghiệm được công nhận hoặc phương pháp thử chuẩn hóa, cho phép sử dụng kết quả từ các phương pháp, tổ chức khác nhưng phải kèm theo tài liệu chứng minh về cơ sở khoa học và độ tin cậy của kết quả.
Bên cạnh đó, quy trình thẩm định cũng được bổ sung cơ chế tham vấn chuyên gia độc lập hoặc Hội đồng tư vấn CDĐL trong các trường hợp phức tạp, qua đó nâng cao chất lượng đánh giá và phản ánh đúng tính liên ngành của đối tượng này.
Những sửa đổi này cho thấy xu hướng chuyển từ “xét duyệt hồ sơ” sang đánh giá thực chất, đồng thời khẳng định CDĐL là một đối tượng có tiêu chuẩn bảo hộ cao và đòi hỏi sự kiểm chứng nghiêm ngặt.
Tuy nhiên, chính vì ngưỡng bảo hộ đặc biệt cao, CDĐL tất yếu gắn với hai trụ cột cốt lõi là tính đặc thù và sự khan hiếm của sản phẩm. Đây lại là điểm nghẽn trong tư duy chính sách ở Việt Nam, khi không ít trường hợp vẫn bị cuốn vào logic mở rộng sản lượng, vô hình trung làm xói mòn chính nền tảng giá trị mà CDĐL được thiết kế để bảo vệ.
(Mời xem tiếp bài Tái định vị CDĐL: Từ hình thức bảo hộ sang chiến lược khai thác trên KTSG số 20 ngày 14-5-2026).
(1) Huy Thọ (2026), 53 năm phát hiện sâm Ngọc Linh: “Quốc bảo” vẫn còn lắm gian nan, Tuổi Trẻ Cuối Tháng, số 3-2026, ngày 30-3-2026






