(KTSG) - Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân năm tháng đầu năm đã tăng 4,31%, tiến sát ngưỡng lạm phát 4,5% Quốc hội đặt ra cho cả năm. Trong bối cảnh đó, Chính phủ yêu cầu cân nhắc kỹ các phương án điều chỉnh giá điện, y tế và giáo dục, nhằm “hạn chế tác động cộng hưởng lên CPI, bảo đảm kiểm soát lạm phát theo mục tiêu”.
- Theo sát áp lực lạm phát thời gian tới
- Hàng xuất khẩu Trung Quốc tăng giá, thế giới đối mặt áp lực lạm phát mới

Chỉ còn chưa đầy 0,2 điểm phần trăm. Đó là khoảng cách giữa mức tăng CPI bình quân năm tháng đầu năm 2026 và mục tiêu kiểm soát lạm phát mà Quốc hội và Chính phủ đặt ra cho cả năm. Con số này xuất hiện trong bối cảnh áp lực giá cả chưa thực sự hạ nhiệt. Giá điện, nước sinh hoạt, vật liệu xây dựng, chi phí nhà ở và năng lượng tiếp tục neo ở mức cao, trong khi các phương án điều chỉnh giá một số dịch vụ công vẫn đang được tính toán.
Theo số liệu công bố ngày 3-6-2026 của Cục Thống kê, CPI tháng 5 tăng 0,29% so với tháng trước và tăng 5,6% so với cùng kỳ năm trước. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính, có tới 10 nhóm tăng giá. Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng mạnh nhất, với mức tăng 0,96% trong tháng 5, đóng góp 0,22 điểm phần trăm vào CPI chung. Tính chung năm tháng đầu năm, nhóm này tăng 6,64% so với cùng kỳ năm trước; nhóm giao thông tăng 5,22%, còn nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,77%.
Cũng theo Cục Thống kê, lạm phát cơ bản tháng 5 tăng 0,34% so với tháng trước và tăng 4,67% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân năm tháng, lạm phát cơ bản tăng 4,04% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng 4,31% của CPI bình quân chung.
Đối với Việt Nam, IMF ghi nhận mục tiêu tăng trưởng cao trong những năm tới nhưng đồng thời đưa ra khuyến nghị ngắn gọn: “Ở thời điểm hiện tại, nên ưu tiên sự ổn định”.
Những con số trên cho thấy áp lực lạm phát phần nhiều đến từ các yếu tố giá năng lượng và dịch vụ thiết yếu hơn là từ yếu tố tiền tệ hay nhu cầu tiêu dùng. Có lẽ bởi vậy, cuộc họp Chính phủ thường kỳ tháng 5-2026 dành khá nhiều sự quan tâm cho câu chuyện điều hành giá. “Dư địa để kiểm soát lạm phát theo mục tiêu đặt ra gặp nhiều thách thức”, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn nói tại phiên họp.
Theo các kịch bản được Bộ Tài chính xây dựng trước đó, lạm phát năm 2026 có thể dao động từ 3,6-4,6%. Ngân hàng Nhà nước dự báo lạm phát bình quân quanh mức 4±0,5%, trong khi Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) cho rằng lạm phát của Việt Nam có thể vượt mốc 5%.
Theo tính toán của Bộ Tài chính, để CPI bình quân cả năm giữ ở mức khoảng 4,5%, mức tăng CPI bình quân mỗi tháng trong phần còn lại của năm chỉ còn khoảng 0,05%. Đây là một thách thức, nhất là khi giá xăng dầu, giá nguyên vật liệu đầu vào vẫn đang trong xu hướng tăng cao
Trong bối cảnh đó, giá điện, giá dịch vụ khám chữa bệnh và giá dịch vụ giáo dục trở thành những biến số được theo dõi sát sao nhất. Về nguyên tắc, việc điều chỉnh các mặt hàng và dịch vụ này theo lộ trình thị trường là yêu cầu được đặt ra nhiều năm nay. Tuy nhiên, thời điểm thực hiện đang được cân nhắc kỹ lưỡng. Bộ Tài chính cho biết đã cập nhật các kịch bản lạm phát và báo cáo Thủ tướng Chính phủ, trong đó có phương án chưa thực hiện điều chỉnh giá điện, giá dịch vụ y tế và giáo dục trong giai đoạn hiện nay.
Quan điểm này được thể hiện trong Nghị quyết phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 5. Theo đó, Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành nghiên cứu, tính toán kỹ lưỡng việc điều chỉnh giá các mặt hàng và dịch vụ do Nhà nước quản lý, trong đó có giá điện, giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh và dịch vụ giáo dục nhằm “hạn chế tác động cộng hưởng lên CPI, bảo đảm kiểm soát lạm phát theo mục tiêu đề ra”. Cùng với đó, phải sử dụng linh hoạt các công cụ quản lý, điều tiết sản xuất, điều hành giá để bảo đảm cân đối cung cầu, ổn định giá cả; đồng thời tăng cường thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm các hành vi đầu cơ, găm hàng hoặc tăng giá bất hợp lý.
Dù vậy, không phải mọi yếu tố tác động đến lạm phát đều nằm trong tầm kiểm soát của cơ quan điều hành. Theo đánh giá của Công ty Chứng khoán KB Việt Nam (KBSV), giá xăng dầu vẫn là biến số có ảnh hưởng lớn nhất đến mặt bằng giá trong nước. Giá năng lượng tăng không chỉ tác động trực tiếp đến CPI mà còn lan tỏa sang chi phí vận tải, sản xuất và logistics.
Theo KBSV, trong kịch bản cơ sở với xác suất khoảng 70%, giá dầu Brent bình quân năm nay sẽ dao động trong khoảng 90-95 đô la Mỹ/thùng và Việt Nam tiếp tục duy trì các biện pháp hỗ trợ giá xăng dầu trong nước. Trong trường hợp đó, CPI bình quân năm 2026 được dự báo tăng khoảng 4,8%, cao hơn mục tiêu 4,5% nhưng vẫn nằm trong vùng có thể kiểm soát. Ngược lại, nếu giá dầu Brent duy trì ở mức 100-110 đô la Mỹ/thùng, lạm phát bình quân có thể lên tới 5,4%, làm thu hẹp đáng kể dư địa điều hành chính sách tiền tệ.
Những dự báo này cũng là lý do khiến các tổ chức quốc tế tiếp tục nhấn mạnh yếu tố ổn định vĩ mô. Trong cuộc làm việc với Bộ Tài chính ngày 8-6-2026, ông Krishna Srinivasan, Giám đốc Vụ châu Á - Thái Bình Dương của IMF, cho rằng cú sốc giá năng lượng đang là thách thức lớn đối với nhiều nền kinh tế châu Á, đặc biệt là các quốc gia phụ thuộc vào nhập khẩu năng lượng. Theo ông, phản ứng chính sách trước các cú sốc cung cần thận trọng. “Đối với chính sách tiền tệ, hãy bình tĩnh trước các cú sốc cung, nhưng cần điều chỉnh nếu lạm phát tăng quá nhanh hoặc kỳ vọng lạm phát bị đe dọa”, ông Krishna Srinivasan nói. Về chính sách tài khóa, IMF khuyến nghị các quốc gia ưu tiên những biện pháp hỗ trợ có mục tiêu thay vì hỗ trợ diện rộng nhằm tránh tạo thêm áp lực lên ngân sách và lạm phát.
Đối với Việt Nam, IMF ghi nhận mục tiêu tăng trưởng cao trong những năm tới nhưng đồng thời đưa ra khuyến nghị ngắn gọn: “Ở thời điểm hiện tại, nên ưu tiên sự ổn định”.
Thực tế, tinh thần này có thể thấy trong các quyết sách điều hành gần đây. Trong Nghị quyết phiên họp thường kỳ tháng 5, Chính phủ tiếp tục yêu cầu điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, kịp thời và hiệu quả; phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa mở rộng hợp lý nhằm hỗ trợ tăng trưởng nhưng vẫn kiểm soát lạm phát và giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô. Rõ ràng, ưu tiên hiện nay của Chỉnh phủ không phải là lựa chọn giữa tăng trưởng và ổn định, mà là duy trì được cả hai mục tiêu trong điều kiện dư địa chính sách ngày càng thu hẹp.






