(KTSG Online) - Các mỏ dầu khí đã khai thác có thể trở thành “kho chứa carbon” quy mô lớn dưới đáy biển, mở ra một ngành kinh tế mới cho Việt Nam. Tuy nhiên, nếu không kịp luật hóa quyền sở hữu, trách nhiệm và cơ chế thị trường thì giấc mơ chôn carbon dưới đáy biển khó thành hiện thực.
- Đề xuất sửa Luật Dầu khí, mở rộng sang năng lượng ngoài khơi
- Net Zero 2050 của Việt Nam, lời giải nằm dưới các bể trầm tích
- Lưu trữ carbon, mảnh ghép còn thiếu trong hành trình Net Zero
Trong dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi) đang được Bộ Công Thương xây dựng, lần đầu tiên hoạt động thu giữ và lưu trữ carbon (CCS - Carbon Capture and Storage) được đưa vào phạm vi điều chỉnh như một phần của hoạt động dầu khí. Đây không chỉ là bổ sung kỹ thuật mà là một bước dịch chuyển tư duy của ngành dầu khí, từ khai thác tài nguyên dầu và khí trên biển sang quản lý không gian địa chất. Câu chuyện không còn dừng ở dầu và khí như thường thấy hàng chục năm qua mà mở rộng sang thứ “vô hình” hơn, lưu trữ, chôn lấp carbon.
Thế nhưng, để biến việc lưu giữ carbon như một cơ hội đầu tư kinh doanh cho ngành dầu khí, điều kiện tiên quyết là phải luật hóa việc lưu trữ, đặc biệt là lưu trữ ngoài khơi, nơi có tiềm năng lớn nhất.
“Kho chứa” carbon… dưới đáy biển
Nguyên lý của CCS không phức tạp: khí thải carbon được thu từ các nhà máy điện, xi măng, thép, sau đó nén lại và bơm xuống các tầng đá xốp ở độ sâu hơn 1.000 mét dưới đáy biển, nhưng tiện nhất và trên thế giới một số quốc gia đã làm, đó là bơm xuống các mỏ dầu khí đã khai thác xong. Lớp đá phủ phía trên đóng vai trò “niêm phong”, giữ carbon trong hàng thế kỷ.

Các nghiên cứu của JOGMEC (Tổ chức An ninh Kim loại và Năng lượng Nhật Bản) đang hợp tác với Việt Nam cho thấy các bồn trầm tích ngoài khơi Việt Nam có thể lưu trữ hơn 10 tỉ tấn carbon. Hai khu vực tiềm năng nhất: bồn Sông Hồng ở phía Bắc và bồn Cửu Long ở phía Nam. Tiềm năng này biến Việt Nam thành một trong những nước có dung tích lưu trữ carbon lớn ở Đông Nam Á. Nói cách khác, Việt Nam không chỉ là nơi phát thải mà có thể trở thành “bãi chứa carbon” cho Việt Nam và cho khu vực.
Lợi thế này gắn trực tiếp với ngành dầu khí, với những mỏ đã khai thác, hệ thống giếng khoan, dữ liệu địa chất, tất cả đều có thể tái sử dụng cho dự án mới - bơm giữ carbon. Một mỏ dầu đã cạn không còn giá trị khai thác nhưng có thể trở thành tài sản lưu trữ. Đây là sự thay đổi căn bản: tài nguyên không còn nằm ở thứ lấy lên, mà ở thứ giữ lại.
Viên gạch đầu tiên từ Nghi Sơn
Việc lưu trữ carbon không còn dừng ở nghiên cứu, một dự án cụ thể đang được đặt lên bàn các cơ quan chức năng. Năm 2023, Tập đoàn Công nghiệp – Năng lượng Quốc gia Việt Nam và JOGMEC ký thỏa thuận nghiên cứu trung tâm lưu trữ carbon ngoài khơi Thanh Hóa, tại lô 103 và 104, cách bờ khoảng 100 km.
Khu vực này nằm gần cụm phát thải lớn gồm lọc hóa dầu Nghi Sơn, nhiệt điện và xi măng. Theo lộ trình dự kiến, giai đoạn 2025-2030 sẽ khảo sát và khoan thăm dò; năm 2031 ra quyết định đầu tư; đến 2035 bắt đầu bơm carbon với công suất 1-3 triệu tấn mỗi năm, kéo dài 20-30 năm.

Các chuyên gia ước tính chỉ riêng khu vực này có thể chứa tới 1 tỉ tấn carbon. Nếu thành công thì đây sẽ là dự án CCS ngoài khơi đầu tiên của Việt Nam, đồng thời là phép thử cho toàn bộ khung chính sách.
Theo Viện Dầu khí Việt Nam (VPI), bể Sông Hồng ở phía Bắc có khả năng lưu trữ 38,1 tỉ tấn carbon. Ở phía Nam, nhóm nghiên cứu của Đại học Bách khoa TPHCM cho thấy, Đồng bằng sông Cửu Long có hai tầng nước mặn sâu Miocen với dung tích từ 70 đến 250 tỉ tấn carbon. Những con số này vượt xa hàng trăm lần lượng phát thải quốc gia hàng năm, đồng thời mở ra khả năng tiếp nhận carbon không chỉ từ các doanh nghiệp phát thải trong nước mà lưu trữ cho cả từ các nước trong vùng.
Không cơ chế tài chính, lưu trữ carbon khó đi xa
Theo tính toán được đưa trong một số hội thảo gần đây của ngành dầu khí, chi phí thu giữ và lưu trữ carbon hiện dao động 50-100 đô la mỗi tấn trong khi một dự án quy mô trung bình cần vốn đầu tư hàng tỉ đô la. Vì vậy, nếu không có cơ chế tài chính rõ ràng, doanh nghiệp trong và ngoài nước khó có động lực đầu tư. Ngân sách nhà nước không thể gánh toàn bộ, các quỹ quốc tế chỉ tham gia khi có khung pháp lý minh bạch, được luật hóa.
Ở các nước, bài toán này được giải bằng thị trường, sàn giao dịch carbon. Doanh nghiệp bán tín chỉ để thu hồi vốn, Nhà nước hỗ trợ hạ tầng ban đầu và chia sẻ rủi ro. Cái khó là tại Việt Nam, thị trường và sàn giao dịch carbon vẫn đang trong giai đoạn hình thành.
Hiện tại, Chính phủ đã đưa lưu giữ carbon vào chiến lược khí hậu quốc gia. Quyết định số 896/QĐ-TTg (Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu đến năm 2050) và Quyết định số 888/QĐ-TTg (Kế hoạch thực hiện cam kết tại COP26) đều nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nghiên cứu, ứng dụng công nghệ CCS cho các nhà máy điện và công nghiệp sử dụng nhiên liệu hóa thạch.
Tuy nhiên, hiện Việt Nam chưa có quy định về quyền sở hữu tầng đá lưu trữ dưới biển. Chưa có tiêu chuẩn kỹ thuật cho việc bơm carbon, chưa có cơ chế xác định trách nhiệm nếu xảy ra rò rỉ sau hàng chục năm.
Dự thảo Luật Dầu khí sửa đổi đã bước đầu ghi nhận CCS, xem lưu giữ carbon dưới các mỏ dầu khí là một hoạt động của ngành dầu khí, bước đầu tạo khung pháp lý cho bơm, lưu giữ carbon, song hành với thị trường, sàn giao dịch carbon ở Việt Nam.
Luật hóa, bước đi không thể chậm
Hội nghị khoa học quốc tế về lưu giữ carbon tổ chức tại TPHCM cuối năm ngoái đã phác họa một điều bất ngờ. Đó là, Việt Nam có thể biến tiềm năng lưu trữ hàng chục tỉ tấn carbin để mở ra một ngành kinh tế mới – kinh tế carbon thấp hay nói nôm na là làm dịch vụ lưu trữ carbon cho thế giới.

Với lợi thế địa chất, Việt Nam có thể “cho thuê kho” để lưu trữ carbon, không chỉ cho doanh nghiệp trong nước mà cả khu vực. Giá lưu trữ carbon hiện nay trên thị trường quốc tế có thể lên tới 300-650 đô la mỗi tấn đối với các tín chỉ loại bỏ carbon chất lượng cao. Nếu tận dụng được cơ hội này, đây có thể là một nguồn thu mới quy mô lớn.
Quan trọng hơn, CCS giúp giải bài toán khó nhất của Net Zero: giảm phát thải trong các ngành khó giảm như xi măng, thép, nhiệt điện. Ba ngành này chiếm tới 40% tổng phát thải của Việt Nam và nhiều quốc gia trong khu vực cũng tương tự.
Rất có khả năng Luật Dầu khí mới sẽ mở cửa cho lưu trữ carbon dưới biển nhưng để bơm carbon xuống các mỏ dầu đã cạn còn phải đi hành trình dài.
Đó là xác định rõ quyền sở hữu không gian lưu trữ này thuộc về chủ mỏ dầu khí hay Nhà nước; tiêu chuẩn kỹ thuật cho bơm và giám sát carbon; cơ chế tài chính bơm carbon gắn với tín chỉ carbon…
Hành trình biến những mỏ dầu khí cũ trở thành “mỏ carbon” mới có khả năng tạo hàng tỉ đô la nếu được đặt đúng trong một khung pháp lý đủ rõ, đủ sớm.






