(KTSG Online) - “96 triệu đồng tiền tác quyền 1 năm cho bài Đất nước trọn niềm vui”(1), con số ấy đủ khiến dư luận dậy sóng khi một ca sĩ chia sẻ đoạn e-mail trao đổi với đại diện nhạc sĩ về phí sử dụng ca khúc.
Thế nhưng, phía sau tranh cãi này không chỉ là chuyện đắt hay rẻ mà là âm nhạc Việt Nam có chấp nhận bước vào một thị trường sở hữu trí tuệ thật sự hay vẫn còn thói quen “xài nhạc miễn phí là chuyện bình thường”?
- Siết vi phạm sở hữu trí tuệ trong tháng 5, tăng 20% số vụ xử lý
- Những điểm cần chú ý về quyền sở hữu trí tuệ khi vào thị trường Trung Quốc
Suốt nhiều năm qua, lĩnh vực âm nhạc Việt Nam tồn tại một nghịch lý. Với nhiều tác phẩm âm nhạc, ca sĩ kiếm tiền từ sân khấu, chạy show, xây dựng kênh YouTube kiếm lượt xem (view) kèm theo đó là tiền ăn chia từ view của nhà mạng hay quảng cáo, livestream nhưng người sáng tác lại là bên thụ hưởng ít nhất.
Không ít nhạc sĩ phải bán đứt ca khúc với giá vài chục triệu đồng rồi nhìn bài hát tạo doanh thu suốt hàng chục năm mà mình không còn quyền lợi gì. Một nền công nghiệp sáng tạo mà người tạo ra tài sản không sống được bằng tài sản ấy hoặc luôn ở thế yếu so với người sử dụng thì khó phát triển bền vững.
Hơn 20 năm trước, khi Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam (VCPMC) bắt đầu đi thu tác quyền cho nhạc sĩ, xã hội từng phản ứng khá gay gắt. Nhiều người xem việc trả tiền bản quyền là “làm khó nghệ sĩ” hoặc “tận thu”. Thực tế, đó là hệ quả của một thời gian dài quen “xài chùa” âm nhạc của xã hội và thiếu luật pháp về sở hữu trí tuệ trong thời gian dài.
Bởi vậy, việc tiền tác quyền tăng lên chưa hẳn là tín hiệu xấu. Một tờ báo đăng tin trong quí 1-2025, VCPMC thu được 85 tỉ đồng tiền tác quyền âm nhạc. Đáng chú ý, có nhạc sĩ nhận hơn 1 tỉ đồng tiền bản quyền. Con số ấy không chỉ mang ý nghĩa tài chính, mà còn thấy âm nhạc bắt đầu được nhìn như một loại tài sản kinh tế thật sự, thay vì “xài chùa” trên Internet hay trên sân khấu, phát thanh, truyền hình.
Ở Mỹ, Hàn Quốc hay Nhật Bản, tiền bản quyền là nguồn thu cốt lõi của ngành công nghiệp âm nhạc. Một ca khúc hit có thể nuôi sống nhạc sĩ nhiều năm. Chính dòng tiền ổn định ấy mới tạo động lực để người ta đầu tư nghiêm túc vào sáng tác, hòa âm, sản xuất.
Ngược lại, nếu ai cũng có thể dùng nhạc miễn phí, thị trường sẽ chỉ khuyến khích cover, sao chép và khai thác lại tài sản cũ và người viết nhạc mới là bên chịu thiệt lớn nhất.
Dĩ nhiên, điều đó không có nghĩa mọi mức phí hiện nay đều hợp lý. Thị trường bản quyền âm nhạc Việt Nam vẫn còn khá mù mờ, thiếu bảng giá tham chiếu, thiếu tiêu chí định giá. Thiếu cơ chế tính phí dựa trên quy mô khai thác thực tế. Một bài hát cũ được báo giá gần 100 triệu đồng mỗi năm sẽ dễ tạo cảm giác bất hợp lý nếu không có cơ sở minh bạch.
Điều đáng lo hơn là nếu xã hội quay lại tư duy “nhạc nên dùng miễn phí cho dễ sống”. Vì khi đó, người đầu tiên mất động lực sẽ là nhạc sĩ và một nền âm nhạc không trả nổi tiền cho chất xám thì rất khó trở thành ngành công nghiệp tỉ đô la như kỳ vọng của Chính phủ về công nghiệp văn hóa.
Không ai ngạc nhiên khi doanh nghiệp phải trả tiền thuê mặt bằng đẹp nhưng không ít người lại khó chịu khi phải trả tiền cho một giai điệu hay. Trong khi đôi khi chính bài hát ấy mới là thứ giữ chân khán giả, tạo cảm xúc và bán được vé.
Muốn phát triển công nghiệp văn hóa hay kinh tế sáng tạo cần chấp nhận một nguyên tắc căn bản. Đó là, tài sản trí tuệ có giá của nó và sẽ dần hình thành thị trường giao dịch.
Một nền âm nhạc muốn lớn mạnh thì trước tiên phải học cách trả tiền cho người tạo ra giai điệu. Và lớn hơn là câu chuyện sở hữu trí tuệ của nhiều ngành, lĩnh vực trong xã hội chứ không riêng âm nhạc, đó là nếu không bảo vệ được bản quyền thì sẽ thui chột động lực sáng tạo xã hội.
(1) https://1thegioi.vn/ca-si-thuy-ha-keu-troi-voi-phi-ban-quyen-96-trieu-cho-1-bai-hat-251937.html






