(KTSG) - “Việc hình thành mô hình doanh nghiệp một người hay doanh nghiệp cá thể sẽ có tác động trực tiếp tới việc hoàn thành mục tiêu có thêm 1 triệu doanh nghiệp, nâng tổng số doanh nghiệp hoạt động vào năm 2030 lên 2 triệu doanh nghiệp”, TS. Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam, trao đổi với Kinh tế Sài Gòn.
Phương tiện kinh doanh mới
KTSG: Thưa ông, mới đây, trong nhóm giải pháp hoàn thiện hành lang pháp lý, nhằm khuyến khích các mô hình kinh doanh mới và thúc đẩy khởi nghiệp trong toàn dân của Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo, việc nghiên cứu chính sách thí điểm để hình thành và phát triển mô hình “doanh nghiệp một người” đã được đặt ra. Ông suy nghĩ như thế nào về chính sách này? Theo kinh nghiệm các quốc gia đã phát triển, mô hình doanh nghiệp một người như vậy sẽ hỗ trợ cho khởi nghiệp sáng tạo như thế nào?
- TPHCM khởi công loạt công trình trọng điểm, định hình siêu đô thị mới
- Các dự án ứng dụng AI thắng lớn tại cuộc thi khởi nghiệp sáng tạo

- TS. Lê Duy Bình: Doanh nghiệp một người, doanh nghiệp một chủ hay có thể gọi là doanh nghiệp cá thể (sole proprietorship, sole trader hay sole proprietorship) là một mô hình kinh doanh được áp dụng rộng khắp trên thế giới, từ nhóm các nước thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đến các quốc gia có vị trí địa lý gần Việt Nam như Trung Quốc, Singapore, Thái Lan...
Doanh nghiệp cá thể đang là hình thức đơn giản, thuận tiện và tiết kiệm chi phí nhất để khởi sự kinh doanh, vì thế, tỷ lệ doanh nghiệp loại này khởi sự kinh doanh tương đối lớn. Chẳng hạn, tại các nước OECD, trên 70% doanh nghiệp mới thành lập là doanh nghiệp cá thể. Hay tại Singapore, doanh nghiệp cá thể chiếm khoảng 50% trong số lượng doanh nghiệp thành lập mới mỗi năm...
Tại Việt Nam, tôi cho rằng, việc phát triển doanh nghiệp cá thể, nếu làm được, sẽ giúp thiết lập một phương tiện để thực hiện kinh doanh cho những người có mong muốn, có ý tưởng nhưng lại chưa có đủ điều kiện về mặt nhân lực, tài chính để khởi nghiệp. Hành lang và địa vị pháp lý rõ ràng giúp người kinh doanh yên tâm đầu tư, giúp khai phá sức sáng tạo và tận dụng được tối đa các nguồn lực tài chính, vật chất khác đang còn rất lớn trong xã hội.
Bên cạnh đó, đây là một định hướng phù hợp với tình hình thực tế. Hiện tại, các cá nhân tham gia các hoạt động kinh doanh dưới hình thức như lao động tự do (freelancer), tự tạo việc làm (self-employed) hay các hoạt động tư vấn dự án, sáng tạo cá nhân (kiến trúc, thiết kế, thời trang, công nghiệp nội dung, văn hóa, tư vấn...) ngày càng nhiều.
Các bạn sinh viên đang ngồi trên ghế giảng đường cũng tích cực tham gia các cuộc thi khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo và trong số đó, nhiều bạn có những ý tưởng kinh doanh rất tốt nhưng chưa thể khởi sự kinh doanh vì thiếu địa vị pháp lý, trên cơ sở đó có thể thu hút sự tham gia đầu tư, hỗ trợ từ những bậc tiền bối hoặc từ các cộng đồng kinh doanh cùng ngành nghề, lĩnh vực...
Nếu có thêm hình thức doanh nghiệp cá thể, ai có ý tưởng, có sản phẩm đều có thể đăng ký kinh doanh. Khi việc kinh doanh tốt hơn, đòi hỏi sự chuẩn hóa trong quy trình sản xuất, cung cấp dịch vụ và quản trị, hay phát triển lên nấc thang cao hơn, doanh nghiệp cá thể sẽ tự muốn chuyển đổi thành doanh nghiệp.
Doanh nghiệp cá thể cũng tạo cơ hội để những người muốn khởi sự kinh doanh thử và sai. Nếu ý tưởng chưa thành công, họ chỉ cần kết thúc công việc kinh doanh cụ thể đó, tích lũy kinh nghiệm để có thể làm tốt hơn trong những lần sau.
KTSG: Như vậy, theo ông, mô hình doanh nghiệp một người hay doanh nghiệp cá thể không nên chỉ giới hạn cho hoạt động khởi nghiệp sáng tạo?
- Đúng như vậy. Nếu làm được, đây sẽ là một mũi tên trúng nhiều đích.
Thứ nhất, đối với hoạt động khởi nghiệp sáng tạo, như đã nói, doanh nghiệp cá thể xuất hiện sẽ tạo địa vị pháp lý rõ ràng để bất cứ ai có ý tưởng, có sáng tạo đều có thể tham gia kinh doanh mà không mất quá nhiều chi phí, cả về thời gian và tiền bạc. Nó sẽ mang lại lợi ích cho hàng triệu người có ý tưởng kinh doanh trong mọi lĩnh vực, ngành nghề, khu vực địa lý, bao gồm cả những người có ý tưởng khởi nghiệp sáng tạo.
Nên cân nhắc xây dựng một luật riêng là Luật Kinh doanh cá thể. Khi đó, toàn bộ quy định về doanh nghiệp tư nhân trong Luật Doanh nghiệp hiện hành sẽ được chuyển sang luật mới. Bằng cách đó, chúng ta có thể tách bạch khung khổ pháp lý dành cho cá nhân kinh doanh và các hình thức kinh doanh cá thể, theo hướng xây dựng một luật mới dành cho nhóm đối tượng là doanh nghiệp tư nhân, hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh. Khi đó, hệ thống luật pháp của Việt Nam về kinh doanh sẽ gồm hai bộ luật riêng là Luật Doanh nghiệp dành cho pháp nhân kinh doanh và Luật Kinh doanh cá thể dành cho thể nhân kinh doanh. Hộ kinh doanh có thể được gọi tên là doanh nghiệp cá thể.
Thứ hai, doanh nghiệp cá thể là phương tiện tốt để xác lập địa vị pháp lý cho hộ kinh doanh. Đây sẽ là giải pháp nhằm cải cách các quy định pháp luật, tạo hành lang pháp lý, môi trường thuận lợi cho sự phát triển của khu vực hộ kinh doanh.
Phải lưu ý rằng, các nước trên thế giới không có quy định riêng về hộ kinh doanh mà chỉ xác định chủ thể kinh doanh dưới hai hình thức, cá nhân kinh doanh và pháp nhân kinh doanh (tương ứng với các công ty của Việt Nam).
Việc bổ sung vào hành lang pháp lý của Việt Nam hình thức doanh nghiệp cá thể phù hợp với thông lệ quốc tế, đồng thời, cũng phù hợp với bản chất hộ kinh doanh hiện nay là cá nhân kinh doanh.
Khi đó, nguyên tắc cần áp dụng nhất quán và xuyên suốt cho việc cải cách, tạo dựng hành lang pháp lý như đăng ký kinh doanh, chế độ thuế, quản lý thuế, chế độ kế toán, báo cáo tài chính, bảo hiểm xã hội, phá sản, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ... là cho cá nhân kinh doanh, không phải với pháp nhân.
Hộ kinh doanh muốn hoạt động dưới hình thức kinh doanh cá thể thì có thể lựa chọn loại hình doanh nghiệp cá thể, tuân thủ các thể chế thiết kế cho mô hình kinh doanh này, thay vì bắt buộc phải đăng ký theo hình thức công ty hoặc tiếp tục duy trì một địa vị pháp lý chưa thật sự rõ ràng.
Thứ ba, việc hình thành mô hình doanh nghiệp cá thể sẽ có tác động trực tiếp tới việc hoàn thành mục tiêu có thêm 1 triệu doanh nghiệp, nâng tổng số doanh nghiệp hoạt động vào năm 2030 lên 2 triệu doanh nghiệp.
Cũng cần lưu ý rằng gần 50% doanh nghiệp được thành lập ở Singapore, 90% số doanh nghiệp tại Malaysia, 68% số doanh nghiệp tại Trung Quốc, hay hơn 70% doanh nghiệp được thành lập tại các nền kinh tế thuộc OECD như Pháp, Đức, Hà Lan, Mỹ... là các doanh nghiệp một chủ hay doanh nghiệp cá thể (sole proprietorship).
Với thủ tục thành lập đơn giản, chi phí tuân thủ thấp nhưng lại giúp chính thức hóa hoạt động kinh doanh, tạo thuận lợi trong giao dịch và thu hút đầu tư..., doanh nghiệp cá thể là lựa chọn tối ưu để khởi sự kinh doanh.
Đối với hộ kinh doanh, việc chuyển đổi sang doanh nghiệp cá thể là sự thay đổi để nâng cao chất lượng quản trị nhưng không gia tăng gánh nặng tuân thủ, họ vẫn có một phương tiện kinh doanh thuận lợi để tiếp tục trưởng thành khi có nhu cầu và khi thị trường đòi hỏi.
Giải quyết vướng mắc từ gốc
KTSG: Thưa ông, vậy chúng ta có thể hình dung cụ thể hơn về khuôn khổ pháp lý phù hợp cho mô hình doanh nghiệp cá thể như thế nào? Chúng ta có nên đặt mục tiêu về một bộ luật riêng để điều chỉnh hoạt động này trong các ngành, các lĩnh vực, bao gồm cả lĩnh vực khởi nghiệp sáng tạo?

- Trên thế giới, hình thức doanh nghiệp cá thể, với bản chất là cá nhân kinh doanh hoạt động dựa trên các nguyên tắc: (i) do một cá nhân làm chủ và có thể thuê thêm lao động, (ii) việc thành lập tương đối đơn giản; (iii) chủ sở hữu chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình (trách nhiệm vô hạn) đối với hoạt động kinh doanh và (iv) chịu thuế thu nhập cá nhân và mức thuế được xác định trên cơ sở lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp một chủ hay doanh nghiệp cá thể này.
Trên cơ sở này, một số quốc gia xây dựng luật riêng cho hình thức cá nhân kinh doanh, một số quốc gia tích hợp mô hình này vào các bộ luật chung điều chỉnh hoạt động kinh doanh trong xã hội, nhưng nhìn chung, các doanh nghiệp cá thể được đăng ký một cách rất dễ dàng tại chính quyền sở tại hoặc qua mạng và chi phí tuân thủ các quy định pháp lý, chế độ kế toán, báo cáo tài chính đơn giản và gọn nhẹ hơn.
Do vậy, chi phí tuân thủ các quy định pháp luật và mức thuế áp dụng đối với doanh nghiệp cá thể tại các quốc gia này thấp ở một mức hợp lý, phù hợp với khả năng thực thi.
Chẳng hạn, từ năm 2020, Trung Quốc ban hành luật riêng về cá nhân kinh doanh và doanh nghiệp do cá nhân làm chủ, gọi là Luật Doanh nghiệp cá thể. Luật này quy định doanh nghiệp cá thể thuộc sở hữu của một cá nhân, cá nhân chịu trách nhiệm vô hạn với các nghĩa vụ liên quan đến doanh nghiệp.
Chủ sở hữu có thể lấy địa chỉ nhà làm địa chỉ kinh doanh, được ký hợp đồng lao động và đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động. Chế độ thuế được áp dụng là thuế thu nhập cá nhân.
Đối với Việt Nam, để tách bạch rõ ràng hai hình thức kinh doanh, cá nhân kinh doanh và pháp nhân kinh doanh, cũng để thuận tiện cho việc khởi nghiệp sáng tạo và xác lập địa vị pháp lý cho hộ kinh doanh, theo tôi, chúng ta nên cân nhắc xây dựng một luật riêng là Luật Kinh doanh cá thể.
Toàn bộ quy định về doanh nghiệp tư nhân trong Luật Doanh nghiệp hiện hành sẽ được chuyển sang luật mới và được điều chỉnh cho phù hợp. Bằng cách đó, chúng ta có thể tách bạch khung khổ pháp lý dành cho cá nhân kinh doanh và các hình thức kinh doanh cá thể, theo hướng xây dựng một luật mới dành cho nhóm đối tượng là doanh nghiệp tư nhân, hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh.
Khi đó, hệ thống luật pháp của Việt Nam về kinh doanh sẽ gồm hai bộ luật riêng là Luật Doanh nghiệp dành cho pháp nhân kinh doanh và Luật Kinh doanh cá thể dành cho thể nhân kinh doanh. Hộ kinh doanh có thể được gọi tên là doanh nghiệp cá thể.
Việc xác lập địa vị pháp lý cho hình thức kinh doanh cá thể và hộ kinh doanh phải là bước tiên quyết cho các cải cách khác về thuế và các quy định khác liên quan. Các quy định pháp luật liên quan, các chính sách hỗ trợ từng mô hình doanh nghiệp nếu được thiết kế dựa trên sự tách bạch này cũng sẽ sát thực tế và hiệu quả hơn.
KTSG: Thể chế và khuôn khổ pháp luật cho doanh nghiệp cá thể sẽ tháo gỡ những vướng mắc hiện hữu về quản lý hộ kinh doanh/cá nhân kinh doanh, đồng thời, mở ra không gian để các mô hình kinh doanh mới xuất hiện như thế nào? Xin ông phân tích cụ thể.
- Xin trở lại với câu chuyện đang được quan tâm thời gian gần đây, ngưỡng chịu thuế với hộ kinh doanh/cá nhân kinh doanh. Trước tiên, cần khẳng định, việc nâng ngưỡng chịu thuế từ 500 triệu đồng/năm lên 1 tỉ đồng/năm thể hiện sự lắng nghe và điều chỉnh chính sách kịp thời, phù hợp với các quy định pháp lý hiện hữu.
Dù vậy, mỗi mức ngưỡng có những bất cập riêng và chúng vẫn chịu tác động bởi các điều kiện giá cả, lạm phát, vùng miền mà trở nên lạc hậu, thiếu tương thích với thực tiễn. Chẳng hạn, ngưỡng 1 tỉ đồng có thể phù hợp với một số ngành như thương mại, dịch vụ, tư vấn - nơi biên lợi nhuận cao, nhưng lại không công bằng với các lĩnh vực như bán lẻ, tạp hóa, vốn có biên lợi nhuận rất thấp, chỉ khoảng 5-8%, có thể hợp lý với hộ chỉ có một lao động, nhưng lại bất hợp lý với hộ sử dụng 5-6 lao động...
Vấn đề cốt lõi là giải quyết các tồn tại từ gốc, nghĩa là xác định địa vị pháp lý của khu vực hộ kinh doanh nói riêng và các cá nhân kinh doanh nói chung. Muốn vậy, phải xây dựng nền tảng pháp lý rõ ràng, minh bạch, với cấu trúc rành mạch, bền vững cho sự phát triển lâu dài, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp và loại hình doanh nghiệp cùng bản chất xuất hiện và trưởng thành.
Điều này cũng giúp chúng ta có cách tiếp cận một cách khoa học, phù hợp với thực tiễn, có tính căn cơ, lâu dài để tạo dựng hành lang pháp lý cho hình thức doanh nghiệp một chủ hay doanh nghiệp cá thể tại Việt Nam.






