Doanh nghiệp: vì lợi nhuận hay là một công dân?
![]() |
| Kênh Ba Bò bị ô nhiễm trầm trọng do nước thải từ các nhà máy |
(TBKTSG) - Gần đây, dư luận khá bức xúc đối với hàng loạt vụ vi phạm đạo đức kinh doanh, xâm hại môi trường và sức khỏe con người ở mức độ nghiêm trọng. Bài toán về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) lại được đặt ra và cần được thảo luận nghiêm túc.
Kể từ khi xuất hiện khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (corporate social responsibility - CSR) lần đầu tiên vào năm 1953, chủ đề này đã gây ra cuộc tranh luận sôi nổi giữa hai trường phái quản trị “đại diện” và “nhiều bên” trong quản trị công ty. Nội dung chính của cuộc tranh luận xoay quanh hai vấn đề then chốt trong CSR là: bản chất của doanh nghiệp hiện đại, và mối quan hệ ba bên: doanh nghiệp - xã hội - chính phủ.
Phe phản đối CSR: trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là làm ra lợi nhuận
Đại diện nổi bật nhất cho những người phản đối CSR là Milton Friedman. Trong một bài báo viết cho tờ New York Times tháng 9-1970, ông nêu rõ: “Doanh nghiệp chỉ có một trách nhiệm duy nhất là tối đa hóa lợi nhuận, gia tăng giá trị cho cổ đông, trong khuôn khổ luật chơi của thị trường là cạnh tranh trung thực và công bằng”.
Theo ông, người quản lý doanh nghiệp (thành viên hội đồng quản trị và ban giám đốc) là những người đại diện cho chủ sở hữu/cổ đông đứng ra quản lý công ty. Họ được bầu hoặc được thuê để dẫn dắt công ty theo cách mà các cổ đông muốn, đa phần là làm ra lợi nhuận càng nhiều càng tốt, đồng thời tuân thủ các quy tắc xã hội cơ bản vốn đã được thể hiện trong luật và các nguyên tắc đạo đức phổ biến.
Đó chính là bản chất vì lợi nhuận (for-profit) của doanh nghiệp và người quản lý doanh nghiệp chỉ có trách nhiệm đối với cổ đông là người chủ sở hữu công ty đã lựa chọn họ để làm đại diện. Do đó, nếu người quản lý công ty muốn, anh ta có toàn quyền để thực hiện các trách nhiệm xã hội dựa trên nhận thức và tình cảm của riêng mình và bằng thời gian và tiền bạc của cá nhân, nhưng không được sử dụng nguồn lực của công ty và nhân danh công ty, nếu không được cổ đông ủy thác để làm việc đó.
Hơn nữa, công ty vốn là một pháp nhân hay là một chủ thể “vô tri vô giác” do con người tạo ra; do đó công ty không thể tự nhận thức và gánh vác nghĩa vụ đạo đức vốn chỉ có con người mới có. Ngoài ra, các trách nhiệm xã hội thuộc lĩnh vực của nhà nước, là chủ thể cung cấp các dịch vụ công, vì lợi ích công cộng và phi lợi nhuận. Chỉ có nhà nước mới có đủ thông tin để quyết định đúng đắn trong việc phân bổ các nguồn lực một cách hiệu quả. Và cấu trúc tam quyền phân lập đã đảm bảo sự phân bổ đó được công bằng và có kiểm soát.
Trách nhiệm chính của doanh nghiệp đối với nhà nước là đóng góp thuế. Và trách nhiệm của nhà nước là làm sao sử dụng tiền thuế đó hiệu quả nhất vì lợi ích công cộng. Như vậy, nếu doanh nghiệp cũng thực hiện các trách nhiệm xã hội thì sẽ có sự trùng lặp và doanh nghiệp sẽ trở thành người vừa đóng thuế, vừa quyết định việc chi tiêu khoản thuế đó ra sao. Người quản lý doanh nghiệp khi ấy sẽ trở thành một nhân viên công vụ hơn là một người đại diện cho lợi ích của cổ đông.
Mặt khác, kể cả khi một người quản lý doanh nghiệp được sử dụng nguồn lực của công ty để thực hiện trách nhiệm xã hội dựa trên phán đoán chủ quan của mình, thì không có gì đảm bảo rằng quyết định của anh ta là sáng suốt và đúng đắn cho mục tiêu xã hội cuối cùng, vì anh ta không phải là một chuyên gia về xã hội.
Từ quan điểm này, trường phái phản đối CSR cho rằng, các chương trình của doanh nghiệp lấy tên “trách nhiệm xã hội” chỉ là những chương trình quảng bá đạo đức giả, mà thực chất mục tiêu cuối cùng vẫn là vì lợi nhuận của doanh nghiệp mà thôi.
Phe ủng hộ CSR: doanh nghiệp là một công dân trong xã hội
Những người ủng hộ CSR không bác bỏ toàn bộ những lập luận trên. Nhưng họ đưa ra một lập luận khác cũng hết sức thuyết phục là bản thân công ty khi đi vào hoạt động đã là một chủ thể của xã hội, sử dụng nguồn lực của xã hội và môi trường, do đó có thể tác động tiêu cực tới xã hội và môi trường. Vì vậy, doanh nghiệp phải có ý thức về những tác động từ hoạt động sản xuất kinh doanh của mình và có trách nhiệm với chính hành vi của mình trước xã hội.
Henry Mintzberg đã lấy ví dụ Công ty Dow Chemicals quyết định bán chất napalm cũng như chất độc da cam cho quân đội Mỹ để sử dụng trong chiến tranh Việt Nam - cả hai đã để lại hậu quả nặng nề cho hàng triệu nạn nhân. Có thể nói bản chất của doanh nghiệp không thể chỉ vì lợi nhuận mà doanh nghiệp ngay từ đầu đã đóng vai trò của một công dân trong xã hội với tất cả nghĩa vụ và quyền lợi thích hợp của mình trong đó. Chính khái niệm “công dân doanh nghiệp” (corporate citizenship) đã ra đời trong trào lưu CSR này.
Thực vậy, trong rất nhiều trường hợp, tình trạng ô nhiễm môi trường và các chi phí xã hội mà doanh nghiệp gây ra có thể lớn hơn rất nhiều lần lợi ích mà công ty này mang lại từ tiền thuế hay tạo việc làm (như trường hợp Công ty Vedan). Doanh nghiệp không thể kêu gọi sự “trung tính” của mình. Tất cả sự kiện của doanh nghiệp như khai trương dòng sản phẩm mới, đặt một nhà máy, đóng cửa một chi nhánh, đều kéo theo những hệ quả xã hội nhất định. Do đó, không thể tách rời hoàn toàn giữa tính chất kinh tế và xã hội khi nhìn nhận bản chất và hoạt động của doanh nghiệp.
Và người quản lý doanh nghiệp cần thực hiện các trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp vì nghĩa vụ và lợi ích của chính doanh nghiệp mình. Trách nhiệm của họ không phải là việc quyết định điều gì tốt hay xấu cho xã hội, mà là đáp ứng những điều mà xã hội mong muốn và trông đợi ở doanh nghiệp như một thành viên đầy đủ. CSR chính là lực cản cuối cùng giúp giữ doanh nghiệp không đi quá đà vì lợi ích kinh tế mà vi phạm các chuẩn mực đạo đức (vốn không phải lúc nào cũng được thể hiện đầy đủ bằng các quy định pháp luật), bỏ quên những tác động tiêu cực của mình đến các thành phần khác trong xã hội.
Doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm xã hội còn vì lợi ích tăng trưởng và phát triển bền vững của chính mình. Thực tế cho thấy, người tiêu dùng và nhà đầu tư ngày càng chú ý đến các tiêu chí thành tích của công ty về đạo đức, lao động, môi trường, xã hội trong các quyết định tiêu dùng hay đầu tư của mình. Hơn thế nữa, không chỉ liên quan đến tính cạnh tranh, CSR còn liên quan trực tiếp đến tính bền vững của công ty. Những vụ đổ vỡ của tập đoàn Enron, Công ty Kiểm toán Arthur Anderson, hoặc ngay vụ Công ty Vedan là những minh chứng rõ nét cho thấy nếu thiếu CSR, doanh nghiệp sẽ tự loại mình ra khỏi thị trường và cộng đồng doanh nghiệp.
Nhận thức được xu thế đó, hầu hết các công ty lớn hiện nay chấp nhận CSR và chủ động đưa CSR vào chiến lược phát triển của công ty. Trong cuộc khảo sát của Công ty McKinsey năm 2007, 84% số quản trị viên cao cấp được hỏi cho rằng việc đóng góp vào các mục tiêu xã hội của cộng đồng cần được tiến hành song song với việc gia tăng giá trị cổ đông, trong khi chỉ có 16% cho rằng lợi nhuận là mục tiêu duy nhất. 51% và 48% ý kiến lần lượt cho rằng môi trường (trong số 15 vấn đề xã hội - chính trị khác nhau) là vấn đề hàng đầu tập trung sự chú ý của công luận, và có ảnh hưởng tiêu cực hoặc tích cực nhất đối với giá trị cổ đông trong năm năm tới.
(Kỳ tới: CSR ở Việt Nam)
TH.S LƯU MINH ĐỨC (*)
(*) Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương







