(KTSG) - Lần đầu tiên sau 13 năm, Mỹ áp đặt mức cảnh báo cao nhất cho một quốc gia trong báo cáo thường niên về bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) tại các nước đối tác thương mại.
Đáng buồn thay, đó lại là Việt Nam. Chúng ta phải đối mặt với một cuộc chạy đua nước rút trong vài tuần tiếp theo, trước nguy cơ bị Mỹ tiến hành điều tra toàn diện, thậm chí trừng phạt thương mại. Đây là thời điểm để nhìn lại cuộc điều tra theo mục 301 mà Trung Quốc từng bị Mỹ thực hiện, để hiểu hơn về những gì Việt Nam có thể sẽ trải qua.
- Mục tiêu 2 triệu doanh nghiệp đối mặt 'rào cản' cơ chế
- Sở hữu trí tuệ xanh và cuộc dịch chuyển của quyền lực cạnh tranh

Sự thất bại của các công cụ thương mại đa phương
Khác với mô hình công nghiệp truyền thống, giá trị của hàng hóa xuất khẩu hiện đại không chỉ nằm ở các yếu tố đầu vào hữu hình như nguyên vật liệu hay nhân công, mà phụ thuộc lớn vào tài sản vô hình, đặc biệt là quyền SHTT. Sáng chế, chương trình máy tính, bí mật kinh doanh, kiểu dáng công nghiệp và chi phí nghiên cứu phát triển nói chung đã trở thành những nhân tố quyết định năng lực cạnh tranh cốt lõi.
Sự dịch chuyển đó tạo ra rất nhiều thách thức đối với hệ thống pháp luật thương mại quốc tế đa phương. Các công cụ phòng vệ thương mại truyền thống trong khuôn khổ WTO, điển hình là thuế chống bán phá giá và thuế chống trợ cấp, vốn được thiết kế để đo lường nền kinh tế vật chất.
Vì thế, chúng bộc lộ những khoảng trống pháp lý khi phải đối mặt với nền kinh tế tri thức. Việc một quốc gia dung túng cho hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, hoặc cố tình duy trì một cơ chế thực thi lỏng lẻo, về bản chất chính là dạng “trợ cấp ngầm” cho doanh nghiệp nội địa. Lợi thế này làm sai lệch giá thành sản xuất thực tế của hàng hóa xuất khẩu, cho phép họ bán ra thị trường thế giới với giá rẻ.
Mặc dù tạo ra sự bóp méo thương mại rõ rệt, những hành vi phi truyền thống này lại rất khó bị điều chỉnh bởi Hiệp định về Trợ cấp và các Biện pháp đối kháng. Sự yếu kém trong thực thi quyền SHTT thường là một vấn đề mang tính hệ thống, tồn tại rộng khắp trên toàn bộ nền kinh tế và ảnh hưởng đến mọi lĩnh vực. Do đó, rất khó để chứng minh là một ưu đãi riêng biệt, một đóng góp về tài chính, hay một khoản lợi ích trực tiếp mà chính phủ nước đó dành cho doanh nghiệp nội địa.
Đứng trước sự bế tắc của thiết chế giải quyết tranh chấp đa phương thuộc WTO, các siêu cường kinh tế có nguy cơ quay trở lại với lựa chọn trả đũa đơn phương. Minh chứng cho xu hướng này chính là cuộc điều tra theo Mục 301 đối với Trung Quốc vào năm 2017 do Cơ quan Đại diện Thương mại Mỹ (USTR) khởi xướng.
Cuộc điều tra theo mục 301 của Mỹ đối với Trung Quốc
Vào tháng 8-2017, USTR theo chỉ thị của Tổng thống Donald Trump, đã quyết định viện dẫn Mục 301 của Đạo luật Thương mại Mỹ năm 1974. Mục 301 trao quyền tối thượng cho Tổng thống và USTR tiến hành điều tra đơn phương đối với quốc gia đối tác nếu bị coi là “không hợp lý hoặc phân biệt đối xử”, “gây gánh nặng hoặc hạn chế thương mại đối với Mỹ”.
Trước khi WTO ra đời vào năm 1995, Mục 301 là công cụ đàm phán thương mại chủ lực của Mỹ, nhưng sau đó đã bị trói buộc bởi các cam kết với WTO. Khác với cơ chế của WTO vốn đề cao tham vấn và cần sự cho phép mới được áp dụng biện phát trừng phạt, Mục 301 mang tính trả đũa. Việc tái kích hoạt Mục 301 để điều tra hành vi xâm phạm SHTT có hệ thống của Trung Quốc đe dọa phá vỡ trật tự thương mại tự do đa phương.
Ngày 22-3-2018, USTR chính thức công bố báo cáo kết quả điều tra về các hành vi vi phạm SHTT và chuyển giao công nghệ của Trung Quốc.
Báo cáo phân loại thành 5 nhóm cáo buộc: (1) Ép buộc chuyển giao công nghệ, (2) Phân biệt đối xử trong cấp phép công nghệ, (3) Thâu tóm công nghệ thông qua đầu tư có định hướng, (4) Đánh cắp bí mật kinh doanh qua không gian mạng, (5) Các cáo buộc khác về cơ chế thực thi, trong đó đáng chú ý nhất, báo cáo chỉ rõ nguyên nhân làm trầm trọng thêm vấn đề thực thi này là do “sự thiếu ý chí chính trị của các quan chức Trung Quốc” (insufficient political will by Chinese offcials).
Cho rằng tình trạng xâm phạm quyền SHTT đã làm sai lệch nghiêm trọng cán cân thương mại, chính quyền Tổng thống Donald Trump khởi xướng hàng loạt vòng áp thuế bổ sung (ban đầu là 25% lên 50 tỉ đô la Mỹ hàng hóa, sau đó mở rộng lên hàng trăm tỉ đô la Mỹ) đối với vô số các sản phẩm nhập khẩu từ Trung Quốc. Sự leo thang trả đũa qua lại đã đẩy nền kinh tế thế giới đến bờ vực, buộc hai siêu cường phải ngồi vào bàn đàm phán, dẫn đến sự ra đời của Thỏa thuận Thương mại giai đoạn 1 vào tháng 1-2020.
Trung Quốc phải cam kết mạnh mẽ trong hàng loạt lĩnh vực, như Bí mật thương mại, quyền SHTT liên quan đến Dược phẩm, chống hàng giả và vi phạm quyền tác giả. Đặc biệt, Thỏa thuận yêu cầu Trung Quốc thay đổi quy trình tố tụng nội địa, nổi bật nhất là việc đảo ngược gánh nặng chứng minh trong các vụ kiện dân sự về đánh cắp bí mật thương mại sang cho bên bị buộc tội. Thỏa thuận cũng cấm tuyệt đối việc sử dụng yêu cầu cấp phép hoặc quyền tiếp cận thị trường để ép buộc chuyển giao công nghệ.
Thay vì khởi kiện lên WTO, Chương 7 của Thỏa thuận quy định một hệ thống giải quyết tranh chấp nội bộ hoàn toàn bằng con đường chính trị. Hệ thống được phân cấp từ các Văn phòng thường trực, lên cấp Thứ trưởng, và cuối cùng là cấp Bộ trưởng/Phó thủ tướng. Cơ chế này cho phép Mỹ duy trì áp lực trực tiếp, bỏ qua các điều kiện phức tạp của WTO, thay vào đó là những phiên đối thoại mang tính mặc cả kinh tế.
Nếu nỗ lực tham vấn các cấp thất bại, bên khiếu nại có quyền tự động áp dụng biện pháp trừng phạt thương mại. Quan trọng nhất là điều khoản cấm bên bị trừng phạt áp dụng các biện pháp trả đũa đối kháng. Trong bối cảnh thỏa thuận này, Mỹ luôn là nước nắm quyền chủ động. Chẳng hạn, nếu Trung Quốc cho rằng việc Mỹ tái áp thuế là sai trái và lạm dụng, lựa chọn pháp lý duy nhất cho họ là đơn phương rút lui hoàn toàn khỏi Thỏa thuận.
Cơ hội nào cho Việt Nam?
Ngay khi báo cáo được công bố, Chính phủ Việt Nam đã lập tức ban hành Công điện chỉ đạo thực hiện quyết liệt các giải pháp thực thi quyền sở hữu trí tuệ, bảo đảm số vụ được xử lý tăng tối thiểu 20%. Hiệu quả của chiến dịch lần này đến đâu vẫn chưa thể trả lời được; nhưng ít nhất, Việt Nam đang gửi một tín hiệu quan trọng đến Mỹ rằng chính phủ thực sự có ý chí chính trị nghiêm túc nhằm cải thiện tình hình.
Công bằng mà nói, trong một vài năm vừa qua, cơ quan chức năng đã có những nỗ lực đáng ghi nhận trong việc ngăn chặn, điều tra, khởi tố, xét xử các vụ việc xâm phạm quyền SHTT quy mô lớn, đặc biệt là trên môi trường Internet. Tuy nhiên, ý thức tuân thủ bản quyền là một nan đề mà có thể phải mất nhiều thế hệ mới giải được.
Quan sát phản ứng của cộng đồng mạng qua vụ việc hệ thống truyền phát bóng đá “lậu” lớn nhất từ trước đến nay bị triệt phá, có thể thấy rõ những quan điểm trái chiều. Một bộ phận không nhỏ công chúng thể hiện sự tiếc nuối, xót xa. Lý do phổ biến nhất được đưa ra đó là thứ cảm xúc chân thật mà khán giả không nhận được từ truyền hình chính thống. Tuy nhiên, liệu đó có phải là lý do thực sự, hay sau cùng, vật chất vẫn là thứ quyết định ý thức?
Trong rất nhiều năm, hàng thế hệ người Việt đã quá quen với “xài chùa” các sản phẩm sáng tạo, đến mức không hề cảm thấy có chút “áy náy” nào khi thực hiện. Chính vì vậy, chúng ta rất dễ dàng để tìm được lý do bao biện cho việc sử dụng hàng hóa, dịch vụ xâm phạm bản quyền.
Từ đó, các nền tảng xâm phạm mới tìm được không gian để bùng nổ, khi nhu cầu người dùng là quá cao, kéo theo những nguồn lợi bất chính khổng lồ.
Bất kỳ “tháng ra quân” nào của cơ quan chức năng cũng sẽ có điểm dừng, đơn giản là bởi nguồn lực có hạn. Vấn đề thực thi quyền sở hữu trí tuệ của Việt Nam có lẽ cũng sẽ bế tắc vĩnh viễn nếu chỉ là nỗ lực của chính quyền, chủ thể quyền, mà thiếu đi sự nhìn nhận và thay đổi từ chính bản thân người dùng. Nhưng Mỹ dường như đang hoàn toàn mất kiên nhẫn. Thách thức ngay trước mắt của Việt Nam vì vậy là vô cùng lớn.
Tài liệu tham khảo
Comment of ITIF to the Office of the United States Trade Representative in the matter of Request for Comments on the Section 301 Investigation of China’s Implementation of Commitments Under the Phase One Agreement, https://www2.itif.org/2025-section301-phase1.pdf.
Section 301 Investigation Fact Sheet, https://ustr.gov/about-us/policy-offices/press-office/fact-sheets/2018/june/section-301-investigation-fact-sheet.






