Chủ Nhật, 14/08/2022, 11:51
32 C
Ho Chi Minh City

Đặt báo in

Thông tin quảng cáo

Thông tin quảng cáo

Định giá phần mềm: tư duy cũ cho một vấn đề mới?

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

Định giá phần mềm: tư duy cũ cho một vấn đề mới?

Phạm Trí Dũng (*)

Nhân viên Cục Thuế TPHCM đang xử lý công việc trên phần mềm chuyên dụng. Ảnh: Lê Toàn

(TBKTSG) – Việc ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) vào hoạt động của các cơ quan nhà nước hiện nay đang được coi là khâu then chốt trong công tác cải cách hành chính. Tuy nhiên, việc ứng dụng CNTT trong các cơ quan nhà nước đang gặp một trở ngại lớn, đó là việc quyết toán các dự án ứng dụng CNTT chi từ nguồn ngân sách nhà nước.

Công văn gây xôn xao giới công nghệ thông tin

Việc thiếu các văn bản hướng dẫn cụ thể về định mức chi phí trong công tác ứng dụng CNTT một mặt làm tăng khả năng thất thoát, tham nhũng, lãng phí như đã xảy ra trong đề án tin học hóa quản lý hành chính nhà nước (Đề án 112), mặt khác, cũng làm nản lòng những người mong muốn triển khai nhanh chóng các dự án ứng dụng CNTT, vì rất khó có thể quyết toán được các dự án này một cách có cơ sở pháp lý theo đúng quy định.

Với mục tiêu sớm đưa ra các hướng dẫn về định mức chi phí ứng dụng CNTT, ngày 17-10-2008 Bộ Thông tin và Truyền thông có Công văn số 3364 về việc hướng dẫn xác định giá trị phần mềm CNTT. Sau khi ban hành, nhiều ý kiến từ các cơ quan bộ, ngành nhận xét văn bản hướng dẫn trên có nhiều điều chưa rõ ràng, chưa đầy đủ và chưa phù hợp khi áp dụng trong thực tiễn.

Tháng 6-2009, Bộ Thông tin và Truyền thông đã có văn bản gửi các tổ chức có liên quan đề nghị góp ý cho dự thảo sửa đổi bổ sung cho Công văn 3364 nhằm đảm bảo sự phù hợp với tình hình phát triển thực tế của công nghiệp phần mềm và trình độ nhân lực phần mềm Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Trong buổi tọa đàm ngày 24-7-2009 tại Hà Nội, Hội Tin học Việt Nam, đại diện các cơ quan bộ, ngành liên quan cùng hơn 40 đơn vị doanh nghiệp hội viên Hội Tin học Việt Nam đã trao đổi phân tích các mặt được và chưa được của Công văn 3364 nêu trên.

Tại buổi tọa đàm, các đại diện của Bộ Tài chính, Bộ Công Thương và Tổng cục Thuế đều thống nhất một số điểm, đó là hướng dẫn định giá phần mềm tại Công văn 3364 là sự đột phá của Bộ Thông tin và Truyền thông, dám bắt tay vào một vấn đề mới và khó, tuy nhiên nội dung hướng dẫn lại khá phiến diện, chỉ xét một số chi phí nhất định trong xây dựng phần mềm (chỉ chiếm khoảng 20% tổng chi phí), mà thiếu hẳn một loạt các chi phí quan trọng như khảo sát, thiết kế, chuẩn hóa nghiệp vụ, quản lý dự án, chi phí triển khai, đào tạo sử dụng, bảo trì nâng cấp hàng năm…

Không những vậy, bản hướng dẫn lại chỉ đề cập đến một dạng phần mềm (trong rất nhiều dạng khác nhau), đó là dạng phần mềm theo mô hình hướng đối tượng. Vấn đề thứ hai, bản hướng dẫn được đánh giá là quá phức tạp trong việc lập các bảng biểu, xác định các tham số, với 5 phụ lục kèm theo.

Một đại diện ở Bộ Công Thương phát biểu, sau khi được giao nhiệm vụ tiến hành nghiên cứu nội dung Công văn 3364 và hướng dẫn các cơ quan trực thuộc triển khai thực hiện, ông đã không thể làm gì tiếp theo vì “bản thân đã không hiểu thì làm sao hướng dẫn?”.

Các đại diện của khối doanh nghiệp thì khẳng định “hệ số mức lương bình quân” mà Bộ Thông tin và Truyền thông đưa vào trong phương pháp định giá này là rất phi lý vì không tính đến một loạt các chi phí đào tạo nhân viên, chi phí quản lý, chi phí khấu hao văn phòng, điện nước…

Đại diện Công ty FPT cho rằng phương pháp này chỉ phù hợp với việc xác định giá trị lao động gia công phần mềm, vì chỉ có gia công phần mềm mới không cần xem xét các chi phí khác ngoài chi phí “nỗ lực viết phần mềm”.

Đại diện Công ty CMC đặt câu hỏi: “Tại sao lại là mức lương bình quân, mà không phải là mức chi phí chỗ làm việc bình quân?”, đồng thời nêu rõ, mức lương bình quân theo thang bảng lương nhà nước đối với sinh viên mới ra trường chỉ 1-2 triệu đồng/tháng, trong khi chi phí một chỗ làm việc của doanh nghiệp phải trả cho những sinh viên này ngoài mức lương khởi điểm khoảng trên dưới 5 triệu đồng/tháng, còn một loạt chi phí liên quan đến chỗ làm việc với tổng chi phí không dưới 10-15 triệu đồng/tháng.

Tham dự buổi tọa đàm, người viết bài này có một cảm nhận, Bộ Thông tin và Truyền thông đã tiếp cận vấn đề chưa đúng tầm của một cơ quan quản lý nhà nước về CNTT, đó là cách tiếp cận tổng quát, toàn diện, bao gồm các mặt kinh tế, kỹ thuật… mà ngược lại, dường như bộ đang tiếp cận vấn đề dưới góc độ của một đề tài chuyên ngành (hẹp).

Cần một tư duy mới cho việc định giá phần mềm

Trước hết, giá trị phần mềm, khác với các sản phẩm dịch vụ truyền thống, nằm ở hàm lượng tri thức trong đó chứ không phải là hàm lượng mồ hôi hay cơ bắp. Phải nói đến giá trị của các quy trình công việc được tối ưu hóa, các bí quyết, phương pháp làm việc khoa học được ẩn chứa trong phần mềm, chứ không phải khối lượng vật chất hay giá trị các “nỗ lực viết phần mềm” như cách tiếp cận của bộ.

Với cách tiếp cận mới này, thì lao động cần đo tính khi định giá các phần mềm ứng dụng CNTT vào một tổ chức, lại là các “lao động quản lý” của tổ chức nơi ứng dụng CNTT và của đơn vị thiết kế phần mềm, những người đã xây dựng đầu bài, tối ưu các quy trình công việc, xây dựng các mẫu biểu, phương pháp thực hiện với sự trợ giúp của phần mềm, chứ không phải là các lao động coding (lập trình) phần mềm.

Để giải một bài toán, có rất nhiều cách giải, nhưng lời giải có giá trị là lời giải ngắn gọn, dễ hiểu và dễ ứng dụng trong thực tế nhất, chứ không phải là lời giải sử dụng những kiến thức cao siêu nhất, có độ phức tạp cao nhất của kỹ thuật công nghệ, đòi hỏi nhiều chi phí khi ứng dụng.

Một người lo bằng kho người làm là ở chỗ đó. Nếu người quản lý xây dựng được quy trình công việc khoa học, đơn giản, chặt chẽ, ít phải sửa đổi, thì giá trị phần mềm thực thi các quy trình này sẽ có giá trị hơn nhiều so với các phần mềm bỏ rất nhiều công sức “coding” nhưng quy trình trong phần mềm lại rối rắm, phi khoa học, mất nhiều thời gian để soát xét kiểm tra khi thực hiện, phải sửa đổi liên tục sau đó…

Thứ hai, định giá phần mềm, hay tổng quát hơn là định mức các chi phí để xây dựng và triển khai ứng dụng phần mềm vào hoạt động của một tổ chức, là công việc thuộc chuyên môn của các nhà kinh tế chuyên ngành. Để tiếp cận vấn đề định mức chi phí ứng dụng phần mềm, cần có những người thuộc chuyên ngành kinh tế trợ giúp.

Trong một chiến lược dài hơn, để phát triển ngành công nghiệp CNTT, cần phải mở chuyên ngành “kinh tế ứng dụng CNTT” trong các trường đại học đào tạo về CNTT.

Đề xuất phương pháp định mức chi phí ứng dụng phần mềmLà người đã có nghiên cứu về định mức chi phí trong doanh nghiệp và làm quản lý CNTT của doanh nghiệp nhiều năm, người viết cho rằng để giải quyết vấn đề nêu trên trong bối cảnh hiện nay, trước hết, Bộ Thông tin và Truyền thông cần xây dựng các tiêu chuẩn về quy mô ứng dụng CNTT (thế nào là lớn, vừa và nhỏ) trong các tổ chức.

Thứ hai, cần định danh và chuẩn hóa các công đoạn xây dựng và triển khai ứng dụng phần mềm trong các tổ chức, cơ quan quản lý nhà nước, tùy theo quy mô, có thể gồm 15 công đoạn chính yếu sau:

1. Xây dựng yêu cầu công việc, chuẩn hóa nhu cầu thông tin.

2. Khảo sát, xây dựng và tối ưu hóa các quy trình công việc, các phương pháp/công nghệ thực hiện công việc.

3. Thiết lập các tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả của đề án ứng dụng CNTT sẽ triển khai và phương pháp đo tính các hiệu quả này.

4. Thiết kế giải pháp phần mềm và chuẩn hóa các quy trình.

5. Lập trình phần mềm, xây dựng tài liệu hướng dẫn và các công cụ trợ giúp liên quan.

6. Kiểm thử phần mềm (testing).

7. Thiết lập cấu hình hệ thống ban đầu và chuyển đổi dữ liệu.

8. Tái cơ cấu tổ chức và xây dựng các quy định liên quan cho phù hợp với quy trình công việc mới.

9. Tổ chức triển khai áp dụng bước đầu và đào tạo hướng dẫn sử dụng.

10. Đo tính hiệu quả của đề án theo các phương pháp đã đề ra.

11. Hiệu chỉnh phần mềm và các quy trình công việc.

12. Xây dựng phương pháp triển khai đại trà.

13. Tổ chức triển khai áp dụng đại trà và đào tạo hướng dẫn sử dụng.

14. Công tác hỗ trợ bảo trì sau triển khai.

15. Đánh giá tổng thể đề án, quyết toán và nghiệm thu đề án.

Tiếp theo, cần định danh và chuẩn hóa các “khoản mục chi phí” bắt buộc phải có trong mỗi công đoạn nêu trên, đặc biệt chú ý các chi phí vô hình đòi hỏi năng lực sáng tạo, chất xám cao của người đóng góp. Cuối cùng, bộ cần tổ chức các dự án khảo sát, điều tra lấy mẫu ở quy mô phù hợp để xác định các mức chi phí tại mỗi “khoản mục chi phí” với phương pháp thống kê có cơ sở khoa học, áp dụng cho từng quy mô ứng dụng CNTT lớn, vừa và nhỏ, có thể từ số liệu của các doanh nghiệp trong nước và khu vực.

Để đảm bảo các số liệu thống kê không bị lạc hậu đối với hệ thống định mức chi phí nêu trên, cần phân tách các mức chi phí cơ sở (áp dụng dài hạn) và các mức chi phí thực hiện thời kỳ (có thể điều chỉnh). Song song với đó là thiết lập tiêu chuẩn thời gian rà soát cập nhật mức chi phí định kỳ.

__________________________________________

(*) Công ty cổ phần Hóa dầu Petrolimex  

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

Tin liên quan

Có thể bạn quan tâm

Tin mới