Thứ Năm, 23/09/2021, 06:55
25 C
Ho Chi Minh City

Đặt báo in

Thông tin quảng cáo

Thông tin quảng cáo

Doanh nghiệp cũng đang cần ‘máy thở’

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

Doanh nghiệp cũng đang cần ‘máy thở’

PGS.TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo (*)

(KTSG) – Máy thở giúp bệnh nhân Covid-19 đảm bảo hô hấp, duy trì sự sống khi phổi bị tổn thương do virus tấn công. Dưới góc độ kinh tế, mọi thứ cũng gần như vậy khi nền kinh tế ngày càng ốm yếu, khiến cho doanh nghiệp cạn kiệt sức lực. Nếu không có các giải pháp kịp thời và hữu hiệu, e rằng tình hình sẽ ngày xấu hơn.

Doanh nghiệp cũng đang cần 'máy thở'
Chỉ khi nào thuốc đặc trị Covid-19 được nghiên cứu thành công, chấp nhận rộng rãi và sản xuất hàng loạt để phổ biến thì mới mong nền kinh tế quay về trạng thái “bình thường cũ”.

Sức khỏe doanh nghiệp đã bị bào mòn

Trụ cột của nền kinh tế là doanh nghiệp và đó cũng chính là một trong những yếu tố cốt lõi để Việt Nam đạt được “thắng lợi kép”- vừa phòng chống dịch vừa tăng trưởng kinh tế – trong năm 2020. Chính sức chịu đựng và sự linh hoạt của các doanh nghiệp, đặc biệt là khu vực tư nhân đã giúp Việt Nam gượng dậy qua các đợt giãn cách xã hội để chống dịch năm trước. Chính các nguồn tích lũy, dự phòng được dành dụm qua một thời gian dài đã giúp các doanh nghiệp vượt qua khủng hoảng, duy trì hoạt động sản xuất – kinh doanh, đảm bảo sinh kế cho người lao động và các hợp đồng đã ký kết với đối tác.

Tuy nhiên, qua một năm đánh vật với dịch Covid-19 và hiện nay là sự khốc liệt của đợt bùng phát dịch lần thứ tư, doanh nghiệp đã bị bào mòn tất cả những gì còn lại. Theo thống kê, số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường tính đến nay đã tiếp tục tăng, đặc biệt là nhóm doanh nghiệp có quy mô nhỏ, với 70.209 doanh nghiệp, tăng gần 25%. Bên cạnh đó, 35.607 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, tăng hơn 22% so với cùng kỳ và chiếm xấp xỉ 51% tổng số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường trong sáu tháng đầu năm 2021.

Số doanh nghiệp còn bám trụ được chắc chắn sẽ ngày càng khó khăn hơn khi việc sản suất – kinh doanh bị hạn chế hoặc thắt chặt để đảm bảo các nguyên tắc an toàn chống dịch. Thực tế có rất ít doanh nghiệp đáp ứng được điều kiện “ba tại chỗ” (làm việc, ăn, nghỉ tại chỗ) và “một cung đường hai điểm đến” (chỉ từ nơi làm việc đến nơi ở tập trung và ngược lại). Nếu có thì điều này sẽ làm cho chi phí tăng lên trong khi năng suất chắc chắn sẽ giảm xuống vì các quy trình sản xuất không còn tối ưu. Điều này sẽ làm cho hiệu quả và các yếu tố cạnh tranh không còn đảm bảo.

Trong khi đó, lạm phát đang có xu hướng tăng sẽ đẩy chi phí sản xuất đầu vào của doanh nghiệp lên. Giá cả hàng hóa, nguyên vật liệu thế giới cũng đang tăng mạnh. Tính đến tháng 6, giá hàng hóa phi nhiên liệu, bao gồm nguyên vật liệu nông nghiệp thô và nguyên vật liệu đầu vào cho sản xuất công nghiệp đã tăng gần 40% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, giá nguyên vật liệu đầu vào cho sản xuất công nghiệp tăng gần 70% và giá nguyên vật liệu nông nghiệp thô tăng 30%. Giá nhiên liệu tăng 110% chủ yếu do nguồn cung bị cắt giảm. Đường CPI phản ánh kỳ vọng lạm phát đang có xu hướng tăng mạnh.

Ngược lại, chỉ số PMI – phản ánh số lượng đơn hàng thu mua của khu vực sản xuất – đang giảm mạnh, dừng mở mức 44 điểm của tháng 6, thể hiện hoạt động sản xuất – kinh doanh đang co cụm lại.

Vì vậy, nếu không có các giải pháp hỗ trợ kịp thời và hữu hiệu thì tình hình chắc chắn sẽ càng diễn biến xấu hơn. Khi các yếu tố khó khăn của môi trường vĩ mô cộng hưởng lại với nhau sẽ càng gây ra các hiệu ứng tiêu cực nặng nề lên sức chịu đựng của doanh nghiệp và e rằng số lượng doanh nghiệp tiếp tục phải tạm thời “cách ly” hay vĩnh viễn dừng hoạt động sẽ tiếp tục tăng mạnh trong sáu tháng tới khi tình hình dịch bệnh ngày càng diễn biến nặng nề và các hoạt động kinh tế luôn có độ trễ nhất định.

Đã có nhiều chính sách hỗ trợ, tiếp sức cho doanh nghiệp được hoạch định và triển khai nhưng hiệu quả thực tế khá mờ nhạt. Như chính sách giãn nợ, giảm lãi suất, cho phép doanh nghiệp chậm trả các khoản nghĩa vụ thuế và bảo hiểm xã hội cùng với gói 62.000 tỉ đồng của đợt dịch trước chắc chắn sẽ không thấm vào đâu so với tình hình hiện nay.

Các gói giải cứu lần này phải có quy mô lớn hơn vì sức khỏe của doanh nghiệp hiện nay đã không còn như một năm trước, số lượng doanh nghiệp cần trợ giúp cũng nhiều hơn. Thậm chí, cần có sự sàng lọc, đánh giá hiện trạng của doanh nghiệp để đưa ra các chính sách hỗ trợ phù hợp. Ý tưởng cũng giống như phương pháp phân ra bốn tầng điều trị của các bác sĩ đối với bệnh nhân nhiễm Covid-19.

Đó là xem doanh nghiệp nào có thể tự xoay sở, không cần trợ giúp, doanh nghiệp nào cần ưu tiên hỗ trợ, doanh nghiệp nào phải tiến hành tái cấu trúc và thậm chí doanh nghiệp nào phải chấp nhận dừng hoạt động. Đây là một chiến lược tổng thể và đòi hỏi nhiều nguồn lực nhưng nếu không triển khai và cứ để cho doanh nghiệp tự lo thì e rằng cái giá phải trả sẽ rất lớn.

Môi trường kinh doanh sẽ còn đi xuống

Tuần trước, Hà Nội đã áp dụng giãn cách xã hội theo nội dung Chỉ thị 16 của Thủ tướng Chính phủ để chống dịch. Trước đó, 19 tỉnh thành phía Nam và một vài tỉnh miền Trung đã áp dụng Chỉ thị 16. Đặc biệt là TPHCM tính đến nay đã gần hai tháng chấp nhận tạm thời hạn chế các hoạt động kinh tế để ưu tiên phòng chống dịch Covid-19.

So với một năm về trước thì tình hình giãn cách lần này ngặt nghèo hơn, kéo dài hơn và không gian giãn cách thì cứ ngày càng lan rộng ra. Đáng nói hơn, biến thể Delta đã tạo ra sự lây nhiễm một cách nhanh chóng. Đã vậy, dịch Covid-19 lần này lại tấn công vào các trung tâm kinh tế lớn của cả nước như TPHCM và Hà Nội, trước đó là Bắc Giang và Bắc Ninh – vùng sản xuất công nghiệp và cung ứng các hàng hóa trung gian quan trọng cho chuỗi giá trị và dây chuyền sản xuất của các nhà máy trong cả nước.

TPHCM chiếm 20% quy mô kinh tế Việt Nam và đóng góp một phần ba cho ngân sách quốc gia lại đang chịu các tác động nặng nề nhất của dịch bệnh trong đợt bùng phát lần thứ tư này. “Đầu tàu đang phanh gấp” chắc chắn sẽ làm cho tốc độ của đoàn tàu chậm lại và cũng mất một thời gian để lấy lại đà vì các hoạt động kinh tế luôn luôn có độ trễ.

Nếu như đầu tư công, xuất khẩu và tiêu dùng nội địa được xem là các trụ cột chống đỡ cho đà tăng trưởng của nền kinh tế trong năm trước thì tình hình hiện nay cho thấy các nguồn lực này đang rất yếu ớt và khó phát huy hiệu quả như trước.

Theo báo cáo kinh tế xã hội sáu tháng đầu năm và kế hoạch nửa cuối năm của Chính phủ thì phân bổ và giải ngân vốn đầu tư công rất chậm. Nửa đầu năm mới chỉ giải ngân được gần 30% vốn đầu tư công theo kế hoạch, thấp hơn 5% so với cùng kỳ năm trước. Tương tự như vậy, xuất khẩu cũng không đạt các mục tiêu đã đặt ra và cán cân thương mại đang có xu hướng nhập siêu.

Yếu tố còn lại, tiêu dùng nội địa và đầu tư của khu vực tư nhân cũng đang giảm sút mạnh do tình hình dịch đang ngày càng nghiêm trọng và gieo rắc một tâm lý sợ hãi ra cả cộng đồng. 19 tỉnh thành phía Nam và Hà Nội đang thực hiện giãn cách xã hội chắc chắn sẽ giáng một đòn chí mạng vào tiêu dùng và đầu tư trong những tháng tới và độ trễ kinh tế có thể sẽ còn kéo dài đến hết năm. Đáng nói, hơn 60% GDP của TPHCM được đóng góp bởi khu vực dịch vụ – khu vực hiện nay gần như đã tê liệt vì thời gian giãn cách kéo dài và ngày càng siết chặt.

Trong khi đó, hầu như không có giải pháp vĩ mô nào rõ rệt để đảm bảo cho các hoạt động kinh tế, hầu như lúc này tất cả chỉ trông chờ vào vaccin. Nhưng cho dù chiến lược này đạt được mục tiêu như kế hoạch là đến tháng 3-2022 tiêm đủ hai liều cho 70% dân số để tiến tới đạt miễn dịch cộng đồng thì những triển vọng kinh tế được tạo ra cũng không phải là một điều chắc chắn. Vì hiệu quả của vaccin không phải là 100% nên tỷ lệ không hiệu quả cộng với số người chưa được tiêm là rất lớn, nếu sự lây nhiễm xảy ra vẫn đủ nguy hiểm để đe dọa hệ thống y tế và khi đó, kinh tế lại tiếp tục chịu hy sinh.

Điều này đã được chứng minh ở một số quốc gia như Anh, Pháp và Israel, mặc dù tỷ lệ tiêm chủng rất cao (trên 60% quy mô dân số) nhưng hiện nay vẫn đang đối phó với tình trạng lây nhiễm quay trở lại và khả năng bùng lên một đợt dịch mới.

Vì vậy, chỉ khi nào thuốc đặc trị Covid-19 được nghiên cứu thành công, chấp nhận rộng rãi và sản xuất hàng loạt để phổ biến thì mới mong nền kinh tế quay về trạng thái “bình thường cũ”, cái cụ thể và dễ hình dung hơn so với cụm từ “bình thường mới” rất mơ hồ. Và từ nay đến đó thì sức khỏe của doanh nghiệp cũng cần được quan tâm chăm sóc và hỗ trợ kịp thời, tích cực như công tác phòng và chống dịch nếu vẫn muốn đạt được mục tiêu kép như năm 2020.

(*) Trường Đại học Kinh tế TPHCM

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

Có thể bạn quan tâm

Tin mới