Thứ Ba, 25/01/2022, 19:05
30 C
Ho Chi Minh City

Đặt báo in

Thông tin quảng cáo

Thông tin quảng cáo

Dự lệnh và động lệnh

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

Dự lệnh và động lệnh

Luật gia Vũ Xuân Tiền (*)

(minh họa: Khều)

(TBKTSG) – Để cho phép làm hoặc cấm làm một việc gì đó, trong lĩnh vực quân sự, thể dục, thể thao thường có hai loại lệnh là dự lệnh và động lệnh. Dự lệnh là một lệnh báo hiệu để người thực hiện chuẩn bị và động lệnh là lệnh để người thực hiện thực hiện yêu cầu.

Chẳng hạn khi xuất phát trong một cuộc thi chạy, người ta có dự lệnh là “Chuẩn bị sẵn sàng” và động lệnh là “Chạy!”.

Sự phân biệt như trên là hoàn toàn hợp lý, và không chỉ hợp lý trong lĩnh vực quân sự, thể thao, văn hóa – xã hội mà còn cần thiết hơn trong quản lý kinh tế. Bởi lẽ, một sự cấm đoán đột ngột trong quản lý kinh tế sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng, thậm chí dẫn đến sự phá sản của không ít doanh nghiệp.

Hiện nay, việc cấm đoán đột ngột trong kinh doanh thương mại gần như không còn nữa vì các văn bản quy phạm pháp luật đều có một “dự lệnh” trong một thời gian nhất định.

Chẳng hạn, một nghị định của Chính phủ thường “có hiệu lực thi hành sau x ngày kể từ ngày đăng công báo” hoặc một đạo luật cũng thường có hiệu lực sau khoảng sáu tháng đến một năm kể từ ngày được Quốc hội thông qua.

Thế nhưng, những mệnh lệnh không hợp lý trong lĩnh vực đầu tư vẫn xảy ra, gây khó khăn lớn cho các doanh nghiệp.

Sự việc điển hình và đang gây xôn xao dư luận là Thông báo số 348/TB-VPCP ngày 9-12-2009 của Văn phòng Chính phủ, thông báo kết luận của Thủ tướng Chính phủ về đồ án Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050. Thông báo này yêu cầu UBND thành phố Hà Nội chỉ đạo dừng ngay việc phá dỡ các nhà biệt thự cũ và xây dựng các tòa nhà cao tầng trong khu vực trung tâm.

Thông báo 348/TB-VPCP là một “động lệnh”. Do đó, khá nhiều dự án đầu tư xây dựng văn phòng và căn hộ cho thuê tại các quận nội thành thuộc trung tâm Hà Nội đã bị dừng lại, các chủ đầu tư đang như ngồi trên đống lửa. Nguyên nhân cơ bản là, yêu cầu dừng ngay việc xây dựng các tòa nhà cao tầng trong khu vực trung tâm Hà Nội là một “động lệnh” quá đột ngột. Bởi lẽ, trong quy trình thực hiện một dự án đầu tư xây dựng, việc xin giấy phép xây dựng và tiến hành xây dựng là khâu cuối cùng.

Để đến được khâu đó, chủ đầu tư đã phải vượt qua một chặng đường dài gian nan với thời gian từ 2-5 năm, có trường hợp tới bảy năm như Công ty cổ phần Trần Hưng Đạo với dự án xây dựng trung tâm thương mại, căn hộ và văn phòng cho thuê tại 114 Mai Hắc Đế, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội. Số lượng các thủ tục hành chính phải vượt qua cũng không ít.

Chẳng hạn, Công ty cổ phần Đầu tư dầu khí Toàn Cầu đã phải xin tới 20 con dấu cho dự án xây dựng khu trường học – văn phòng – nhà ở cao tầng và thấp tầng tại 170 đường La Thành, quận Đống Đa, Hà Nội… Cùng với các công việc chuẩn bị trong thời gian dài như vậy là hàng chục tỉ đồng đã chi ra để di dời cơ sở sản xuất cũ, nộp tiền sử dụng đất, lập dự án đầu tư, phí tư vấn và chi phí cho ban quản lý dự án…

Ngoài ra, không ít trường hợp đã vay vốn ngân hàng. Chẳng hạn, theo báo cáo của Công ty TNHH Minh Khang, công ty đã vay để giải ngân cho dự án 144 tỉ đồng và chỉ trong sáu tháng công trình bị tạm dừng, gây thiệt hại tới 11 tỉ đồng là lãi trả tiền vay…

Do đó, không được phép tiếp tục thực hiện dự án, chắc chắn không ít doanh nghiệp-chủ đầu tư sẽ tuyên bố phá sản. Từ nguy cơ nhãn tiền nêu trên, bảy trong số những công ty có dự án bị dừng thi công theo Thông báo số 348/TB-VPCP đã có đơn kêu cứu đến Phòng Thương Mại và Công nghiệp Việt Nam đề nghị có kiến nghị đến Thủ tướng Chính phủ xem xét lại (xem bảng).

Thiết nghĩ, trong lĩnh vực thực hiện các dự án đầu tư, không thể sử dụng các “động lệnh”, cấm xây dựng ngay tức khắc vì làm như vậy, thiệt hại cho các chủ đầu tư và toàn xã hội là quá lớn. Hợp lý hơn cả là thông báo cấm thực hiện khâu đầu tiên là khâu chấp thuận dự án.

Vì vậy, ngày 13-4-2010, UBND thành phố Hà Nội đã có công văn số 2502/UBND-XD gửi Thủ tướng Chính phủ đề nghị cho phép tiếp tục triển khai các dự án, công trình xây dựng nhà cao tầng trong khu vực trung tâm đã cấp phép xây dựng, hoặc đã được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận về chủ trương đầu tư và quy mô công trình, chỉ tiêu quy hoạch kiến trúc, đã phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch, quy hoạch chi tiết, phê duyệt tổng mặt bằng, kiến trúc công trình kể từ 31-12-2009 trở về trước mà phù hợp với quy hoạch xây dựng chung.

__________________________________________________________

(*) Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty TNHH Tư vấn VFAM Việt Nam

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

Có thể bạn quan tâm

Tin mới