Thứ Sáu, 5/06/2026
24.5 C
Ho Chi Minh City
Html code here! Replace this with any non empty raw html code and that's it.
Trang chủ Blog Trang 16069

Giá vàng rồi sẽ ra sao?

0
Giá vàng rồi sẽ ra sao?

Giá vàng rồi sẽ ra sao?

Giá vàng đang biến động mạnh cả ở thị trường thế giới lẫn thị trường trong nước. Ảnh: Lê Toàn.

(TBKTSG Online) - Giá vàng thế giới và trong nước trong mấy ngày vừa qua đã có những biến động mang tính kỷ lục. Chỉ trong vòng một ngày thứ Hai (17-3) giá vàng thế giới đã "chạy" từ 994 đô la/ ounce lên mức 1.032 đô la Mỹ/ ounce, rồi sau đó đột ngột giảm mạnh trong mấy ngày liên tiếp xuống mức 905 đô la Mỹ/ ounce.

Theo đó giá vàng trong nước cũng có những biến động rất mạnh, trong đêm 20-3, giá vàng đã giảm khoảng 1 triệu đồng/lượng. Điều này khiến các nhà đầu tư vàng trong nước hết sức bất ngờ dẫn đến tâm lý lo lắng và câu hỏi đặt ra là liệu giá vàng có tăng lại hay không?

Giảm quá nhanh vì đã tăng quá nhanh

Như chúng tôi đã phân tích và dự báo trên TBKTSG (số 12-2008), khi giá vàng đạt đến ngưỡng 1.000 đô la Mỹ/ounce thì sẽ có một đợt sụt giảm giá mạnh mang tính điều chỉnh do các quỹ đầu tư vàng bán ra để kiếm lời và thực tế mấy ngày vừa qua đã diễn ra theo những dự báo đó.

Tuy nhiên, đợt tăng giá quá mạnh vừa qua đã nằm ngoài dự báo của tất cả các chuyên gia khi giá vàng chạm mức 1.032 đô la/ounce. Điều đó cho thấy không loại trừ giá vàng đã bị các nhà đầu tư thế giới đầu cơ làm giá để kiếm lời, vì vậy khi quay trở lại đà sụt giảm, giá vàng đã giảm rất mạnh.

Bài thuốc của FED đã hiệu nghiệm hơn cả mong đợi

Trước cuộc họp của FED một ngày, tức là ngày 17-3, 80% các chuyên gia, nhà phân tích, ngân hàng và quỹ đầu cơ khi được thăm dò đều cho rằng quyết định của FED lần này là rất “mạnh tay”, 100 điểm lãi suất sẽ được cắt giảm là điều chắc chắn. Thế nhưng cuộc họp của FED đã dẫn đến kết quả phút chót là chỉ 75 điểm.

Sau đó, trả lời phỏng vấn báo chí, Chủ tịch FED, ông Ben Bernanke đã phát biểu một cách tự tin rằng “mặc dù mối quan tâm hàng đầu của chúng tôi hiện nay là nguy cơ suy thoái của nền kinh tế Mỹ và cần tạo động lực để tăng trưởng nhưng lạm phát vẫn luôn là mối đe dọa thường trực. Vì vậy [cắt] 75 điểm lãi suất là hợp lý và tốt cho nền kinh tế lúc này”.

Ngay sau lời phát biểu đó thì vàng và cả đồng bảng Anh, euro, đô la Úc đã bị bán ra mạnh vì các nhà đầu tư đã thấy rõ động thái của FED và nhận ra mình đã “đi quá xa” trong việc đẩy giá đô la xuống. Ngày hôm sau, bài thuốc của FED đã tỏ ra rất hiệu nghiệm khi thị trường chứng khoán Mỹ đã có những phiên tăng giá ngoạn mục, đồng đô la Mỹ phục hồi nhanh chóng và mạnh mẽ. Tất cả điều đó đã được các nhà đầu tư “giáng” xuống vàng bằng cách bán mạnh ra, và kết quả trong bốn ngày vàng đã giảm gần 100 đô la Mỹ/ounce.

Giá vàng rồi sẽ ra sao?

Xét theo truyền thống biến động giá, từ giữa năm 2007 đến nay vàng đã có những đợt tăng giá quá mạnh và bất thường, lần lượt vượt qua ba mức cản tâm lý vô cùng quan trọng là 800, 900 và 1.000 đô la Mỹ/ounce.

Vì vậy giờ đây đó sẽ là những mức “đáy” để hứng giá vàng rớt xuống. Xét về yếu tố phân tích kỹ thuật, trong ngắn hạn sắp tới, giá vàng thế giới sẽ tiến đến cản 900 đô la/ounce. Nếu phá vỡ mức này, có thể giá vàng sẽ tiếp tục sụt giảm mạnh xuống mức 850 đô la/ounce, tương đương mức giá trong nước khoảng 16,3 - 16,4 triệu đồng/lượng và sẽ dao động quanh mức này một thời gian trước khi hình thành xu hướng giá mới.

Điều này sẽ xảy ra nếu sắp tới có những dấu hiệu tốt về sự phục hồi kinh tế Mỹ, trong khi trên thị trường đang có tin đồn là các ngân hàng trung ương trên thế giới sẽ bán vàng ra để kiếm lời vì mức giá hấp dẫn hiện nay. Ngoài ra, còn một yếu tố có tính thời vụ là vào tháng 3 và tháng 4 hàng năm thường có những đợt sụt giảm giá vàng vì đây đã là giai đoạn cuối của mùa cưới ở Ấn Độ nên nhu cầu vàng tiêu dùng sẽ giảm tạm thời. 

Tuy nhiên, nếu sắp tới giá vàng không thể phá được mức cản 900 đô la/ounce thì có thể giá vàng sẽ tăng trở lại mức 950-970 đôla/ounce và “chạy” trong biên độ này một thời gian. Điều này được giải thích vì hiện nay các nhà đầu tư vẫn chưa hoàn toàn tin tưởng lắm vào khả năng hồi phục của nền kinh tế Mỹ và đặc biệt thị trường vẫn kỳ vọng FED sẽ còn một đợt cắt giảm lãi suất nữa.

Những phân tích này phát đi tín hiệu cảnh giác cho nhà đầu tư vàng trong nước, bởi vì kỳ vọng của giới đầu tư vàng Việt Nam hiện nay là thiên về xu hướng giá tăng hơn giá giảm. Hơn nữa, kỳ vọng về lạm phát cao cũng khiến nhiều nhà đầu tư muốn mua vàng vào, vì vậy với đợt sụt giá vừa rồi, có thể nhiều người cho rằng đây là thời điểm tốt để mua vàng vào và sẽ làm giá trong nước “cứng” hơn giá thế giới.

Trước tình hình đó, các nhà đầu tư trong nước cần hết sức thận trọng và theo dõi sát biến động giá vàng thế giới và trong nước đặc biệt là khi giá tiến đến các mức cản và biểu hiện của giá lúc đó sẽ là những chỉ báo quan trọng cho quyết định đầu tư, vì hiện tại xu thế vàng thế giới là rất không chắc chắn, lưng chừng giữa tăng và giảm.

NGUYỄN KHẮC QUỐC BẢO - HỒ QUỐC TUẤN (Đại học Kinh tế TPHCM)

Chống lạm phát: phải tìm đúng bệnh

0
Chống lạm phát: phải tìm đúng bệnh

Chống lạm phát: phải tìm đúng bệnh

Chống lạm phát phải từ căn nguyên của chúng. Lạm phát ở đâu và lúc nào cũng là hiện tượng của tiền tệ

(TBKTSG Online) - Tiếp tục đề cập các giải pháp chống lạm phát, TBKTSG giới thiệu bài viết của PGS.TS. Nguyễn Thị Ngọc Trang (Đại học Kinh tế TPHCM) xung quanh những bất lợi khi nâng giá tiền đồng và “đơn thuốc” cho căn bệnh lạm phát.

Gần đây có một số quan điểm từ các nhà hoạch định chính sách cho đến các chuyên gia kinh tế cho rằng phải để tiền đồng Việt Nam (VND) lên giá, thậm chí lên giá mạnh, như một mũi tên trúng hai đích: chống lạm phát và ngăn dòng vốn vào. Lý thuyết và nghiên cứu thực chứng ở các quốc gia, cũng như thực tế ở nước ta, đều không ủng hộ cho hai kết luận này.

Hiệu ứng từ tỷ giá sang giá hàng hóa nội địa và lạm phát là rất yếu

Về lý thuyết, muốn biết được sau khi đồng tiền được định giá cao (hay phá giá) có tác động như thế nào đến lạm phát thì phải tính toán được hiệu ứng truyền dẫn từ tỷ giá sang giá hàng nội địa và sau đó là tới lạm phát trong nước. Nếu tương quan này yếu, việc mong chờ vào tỷ giá để chống lạm phát sẽ rất khó khả thi.

Nghiên cứu của Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS, Jonathan McCarthy, 1999) cho thấy có mối tương quan rất yếu giữa tỷ giá và giá hàng hóa nội địa, tức là khó có thể kết luận Việt Nam sẽ giảm được 64.000 tỉ đồng giá hàng hóa nếu như VND lên giá 5% (với kim ngạch xuất khẩu dự kiến là 80 tỉ đô la). Nói thêm về tính cạnh tranh thì một nghiên cứu của Corsetti và Dedola (2002) cho thấy hiệu ứng truyền dẫn là rất thấp ở các nước không có cạnh tranh hoàn toàn.

Đó là nói về các yếu tố để hình thành hiệu ứng truyền dẫn, còn điều kiện để có hiệu ứng truyền dẫn hoàn hảo thì sao? Hội thảo của Ngân hàng Trung ương Canada vào tháng 11-2002 cho rằng điều kiện để có hiệu ứng truyền dẫn hoàn hảo là giá cả hàng hóa trong nước phải thật linh hoạt.

Các nghiên cứu thực chứng này rất hữu ích cho quan điểm dùng tỷ giá như là một công cụ mạnh để chống lạm phát sẽ khó mang lại hiệu quả. Thực tế ở nước ta cho thấy chênh lệch giá cả trong nước và quốc tế của giá cước viễn thông (lúc còn độc quyền), giá xăng dầu, giá thuốc, giá sữa đã cao ngất ngưởng như thế nào.

Rủi ro giao dịch và kinh tế khi VND lên giá

Nếu chỉ đơn thuần phân tích các khoản doanh thu về xuất khẩu và nhập khẩu để xem tính chất bù trừ của hai giao dịch này và rồi kết luận là xuất khẩu thiệt hại không đáng kể là chỉ mới tính đến rủi ro giao dịch (transaction exposure). Hơn nữa, một phần trong rủi ro này có thể được các doanh nghiệp phòng ngừa bằng các công cụ phái sinh hiện có ở nước ta như option hay forward.

Cái mà họ ngại nhất và được nhắc đến nhiều nhất trong giáo khoa kinh tế học và được đề cập đến rất nhiều từ cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 là rủi ro kinh tế (economic exposure). Tổn thất này thường ít được nhận biết và khó đo lường, nhưng hậu quả thì khôn lường.

Rủi ro kinh tế cho thấy chẳng những doanh nghiệp có yếu tố kinh doanh quốc tế mà ngay cả các doanh nghiệp thuần túy kinh doanh nội địa cũng sống dở chết dở khi hàng hóa nội địa bị hàng hóa nước ngoài xâm lấn do giá trở nên đắt hơn. Thất nghiệp và bất ổn kinh tế và xã hội là những điều phải tính đến của rủi ro kinh tế do hệ lụy của VND lên giá. Bàn về VND lên giá mà không nói đến rủi ro kinh tế là thiếu sót lớn.

VND lên giá không làm giảm dòng vốn ngoại

Muốn biết dòng vốn có chảy vào hay chảy ra nền kinh tế cần phải tính đến tỷ suất sinh lợi có hiệu lực (effective interest rate), tức là nhà đầu tư nước ngoài phải cùng lúc xem xét hai yếu tố: lãi suất VND và mức tỷ lệ tăng giá kỳ vọng của VND, ở đây ta so sánh với đồng đô la Mỹ. Lãi suất VND hiện là 12%, nếu VND dự báo tăng 5% như kỳ vọng của một số tổ chức quốc tế (và mong muốn của một số hiệp hội trong nước?) thì nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư vào Việt Nam sẽ được hưởng một tỷ suất sinh lợi thực sự là (1+12%)(1+5%) – 1 = 17,6%.

Trong khi lãi suất Libor trên thị trường tiền tệ quốc tế chỉ khoảng 2,6%, cho dù chúng ta có mở rộng biên độ tỷ giá nhưng nếu như kiên quyết không cung ứng tiền đồng ra lưu thông để mua vào đô la Mỹ thì không khó để dự báo tỷ giá chỉ có giảm, như vậy bất cứ một nhà đầu tư nào đang nắm giữ đô la Mỹ cũng muốn đầu tư vào Việt Nam để hưởng một tỷ suất sinh lợi quá hời. Giảm tỷ giá chỉ làm cho dòng vốn chảy ra khi nào kỳ vọng VND mất giá vượt quá mức chênh lệch lãi suất trong nước và quốc tế (khoảng 10%).

Liệu có khả năng VND mất giá 10%? Xác suất này là vô cùng thấp nếu không muốn nói là chỉ có khi nào Việt Nam rơi vào khủng hoảng. Thực tế cho thấy, ngay từ cuối năm 2007, HSBC đã khuyên các khách hàng của mình nên bán bớt cổ phiếu và đầu tư vào kênh trái phiếu VND. Còn ngay sau khi Chính phủ chủ trương cho biên độ giao dịch tỷ giá được mở rộng ra ±2% thì một lượng rất lớn các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư ồ ạt vào trái phiếu nội tệ. Nếu Ngân hàng Nhà nước (NHNN) kiên quyết không tung VND để hấp thụ lượng ngoại tệ chảy vào kênh trái phiếu ngày càng nhiều thì VND càng lên giá, và như thế là cái vòng luẩn quẩn nguy hiểm sẽ xảy ra.

Như vậy, với thực tế hiện nay thì VND tăng giá hầu như chỉ làm cho dòng vốn ngoại chảy vào ngày càng nhiều mà thôi và càng tạo áp lực lên lạm phát.

Mặt khác, việc ngăn chặn không cho dòng vốn vào trong lúc này là hoàn toàn bất lợi. Hiện nay, chúng ta đang dư thừa ngoại tệ thanh toán chứ không dư thừa ngoại tệ vốn và nền kinh tế hiện đang rất cần vốn để tăng trưởng. Các ngân hàng thương mại tuy không mua ngoại tệ nhưng vẫn thu hút vốn ngoại tệ rất lớn thông qua việc tăng lãi suất huy động đô la Mỹ. Nếu ngăn chặn dòng vốn ngoại thì tăng trưởng giảm là điều chắc chắn và môi trường đầu tư sẽ xấu đi đáng kể.

Phải làm gì?

Chống lạm phát phải từ căn nguyên của chúng. Lạm phát ở đâu và lúc nào cũng là hiện tượng của tiền tệ. Ở Việt Nam, gốc rễ của hiện tượng tiền tệ này nằm ở chính sách mở rộng tín dụng và tài khóa (chi tiêu công tràn lan và lãng phí) phục vụ cho tăng trưởng trong nhiều năm liền. Chống lạm phát là phải chống từ căn nguyên của chúng mà quan trọng nhất là thắt chặt chi tiêu công.

Quan điểm của chúng ta lâu nay thiên về chống lạm phát bằng chính sách “trọng cung” tỏ ra không hiệu quả. Trước đây là tính đến chuyện giảm thuế hàng nhập khẩu, nay ta lại tính đến việc tăng giá VND để cung hàng hóa thế giới tràn về thì không ổn. Trong một thế giới mà dòng tài chính lớn hơn gấp cả trăm lần dòng vốn thương mại, tác động rất lớn và ngay tức thời đến lạm phát, mà thiên về “trọng cung” thì như muối bỏ biển.

Muốn cho VND phản ảnh những tín hiệu của thị trường (chứ không phải theo quan hệ cung cầu vì tỷ giá của ta chưa đến lúc thả nổi) mà kiên quyết không mua vào ngoại tệ là không ổn. Đô la Mỹ thì cứ tràn vào mà ta kiên quyết không mua thì làm sao gọi là thị trường hay linh hoạt? Càng không mua thì tỷ giá càng giảm vì các ngân hàng mua vào chỉ có lỗ do biết chắc ngày mai này tỷ giá chỉ có giảm mà thôi.

Vấn đề chỉ được giải quyết bằng một trong hai giải pháp (hoặc cùng lúc) là (1) kiểm soát ngăn lại không cho vốn vào hoặc/và (2) phải đưa VND ra mua ngoại tệ.

Kiểm soát vốn thì hậu quả sẽ khó lường trong lúc này. Thậm chí ngay cả khi lựa chọn kiểm soát vốn, NHNN vẫn phải tăng cung VND mà trước mắt nên tìm ra cơ chế để ưu tiên mua đô la Mỹ cho các doanh nghiệp xuất khẩu. Can thiệp này tuy vẫn không cưỡng lại được đà tăng giá của VND nhưng nó chuyển tải một thông điệp là NHNN sẵn sàng can thiệp bất kỳ lúc nào vào tỷ giá. Với biên độ rộng, nếu tỷ giá có lên có xuống hàng ngày thì các ngân hàng thương mại có thể mua vào ngoại tệ mà không sợ lỗ. Giải pháp này sẽ giải quyết tình trạng ứ đọng ngoại tệ trong nền kinh tế. Như vậy chúng ta phải chấp nhận lạm phát trong chừng mực nhất định nào đó cho tăng trưởng.

Chống lạm phát phải từ nội lực chứ không thể vay mượn các yếu tố ngoại sinh. Về lâu dài sẽ phải tính đến chuyện hấp thụ tốt nhất dòng vốn ngoại cho nền kinh tế để tránh khỏi phải lặp lại sai lầm trong thời gian qua khi ta đổ thừa cho lạm phát là do hấp thụ không hết dòng vốn ngoại. Con đường khả dĩ chỉ có thể là chuyển hướng đầu tư từ khu vực công sang cho khu vực tư đảm nhiệm.

Còn một cách chống lạm phát khác rất hiệu quả với cái giá phải trả rất thấp là cắt đứt cho bằng được khuynh hướng và kỳ vọng lạm phát. Nếu Chính phủ liên tục đưa ra thông điệp chống chi tiêu công lãng phí và thực hiện có hiệu quả thì khuynh hướng và kỳ vọng lạm phát sẽ giảm theo. Các công bố chỉ số lạm phát định kỳ của Chính phủ nếu có kèm theo diễn giải có bao nhiêu dự án đầu tư kém hiệu quả đã ngay lập tức được “đình lại” sẽ có tác động tâm lý rất lớn đến khuynh hướng và kỳ vọng lạm phát của người dân và toàn thị trường. Nhiều nước cũng đã làm vậy rồi và đã thành công.

NGUYỄN THỊ NGỌC TRANG 

Tân dược giả: Nỗi lo không của riêng ai

0
Tân dược giả: Nỗi lo không của riêng ai

Tân dược giả: Nỗi lo không của riêng ai

Một nạn nhân của xiro ho giả có chứa chất độc diethylène glycol đang được điều trị tại Quảng Đông, Trung Quốc.

(TBKTSG Online) - Tân dược giả là nỗi lo không của riêng một quốc gia nào mà đã trở thành vấn nạn toàn cầu, bởi nó không chỉ đe dọa tính mạng người bệnh mà còn giáng những đòn trí mạng vào hình ảnh và thương hiệu của nhiều hãng dược phẩm nổi tiếng thế giới.

Theo ước đoán của các chuyên gia, gần 10% thuốc trị bệnh đang lưu hành trên thị trường thế giới hiện nay là thuốc giả, và tỷ lệ này có thể tăng gấp đôi từ nay đến năm 2010. Bị làm nhái nhiều nhất là những loại thuốc tăng hoócmon, corticoid, thuốc kháng histamin, thuốc kích thích hay tăng cường trí lực. Tại các nước đang phát triển kháng sinh và thuốc kháng virus thường bị làm giả nhất, còn tại các nước phát triển thuốc giả thường là Viagra!

Nỗi lo không của riêng ai

Trước đây, thuốc giả được sản xuất chủ yếu ở châu Âu sau đó được đưa đi tiêu thụ ở châu Phi. Hiện nay sản xuất thuốc giả đã trở thành một hệ thống toàn thế giới, dẫn đầu là Ấn Độ và Trung Quốc. Điều dễ nhận thấy là khi tân dược giả được tung ra thị trường thì người bệnh và những nhà sản xuất thuốc đều phải gánh chịu hậu quả.

Ví dụ, trong năm 1990 thuốc xirô ho giả có chứa diethylène glycol - một loại hóa chất dùng để chống đông trong công nghiệp - đã làm cho 90 người ở Haiti, 30 người Ấn Độ, và 200 người ở Nigeria, chủ yếu là trẻ em, thiệt mạng. Đến năm 2006, số nạn nhân còn nhiều hơn khi hóa chất này được tìm thấy trong 260.000 chai xirô ở Panama. Trong đợt dịch viêm màng não hoành hành ở Nigeria năm 1995 có  đến 2.500 người chết do tiêm phải văcxin giả.

Mới đây, tại sân bay Roissy (Paris), hải quan Pháp đã phát hiện 50.000 gói thuốc màu xanh khi kiểm tra lô hàng vận chuyển từ Ấn Độ đến Cộng hòa Dominica. Phân tích cho thấy đây là thuốc Viagra giả. Năm 2006, hải quan Pháp phát hiện 590.000 gói thuốc giả, nhiều gấp 80 lần so với số lượng 7.000 gói năm 2005, và chủ yếu cũng là thuốc Viagra. Hồi đầu năm 2007, hải quan tiếp tục phát hiện 360.000 gói thuốc giả màu xanh nhập từ Ấn Độ để xuất sang nhiều nước khác.

Tại Nga, năm 2005 cảnh sát phát hiện hàng ngàn ống thuốc Cavinton giả dùng trong điều trị rối loạn tim mạch và giảm trí nhớ, chưa kể những lô thuốc giả được tung ra chợ đen. Không lâu sau đó, cảnh sát Moscow bắt giữ một đám người trú ngụ trong một khu ổ chuột chuyên sản xuất thuốc aspirin từ bột mì.

Mức nguy hại của thuốc giả đến sức khỏe của người bệnh phụ thuộc vào “độ” giả của thuốc, không phải thuốc nào cũng “giả” giống nhau. Những loại thuốc không giả hoàn toàn mà có thành phần chính thấp hơn công thức cũng sẽ gây hậu quả lâu dài và sẽ làm cơ thể quen dần với thuốc, khiến cho việc điều trị trở nên khó khăn, thậm chí là không có hiệu quả. Đáng buồn hơn nữa là chúng làm giảm đáng kể hiệu quả việc điều trị bằng kháng sinh, nhất là trong trường hợp chữa bệnh AIDS tại các nước châu  Phi.

Thực tế cho thấy không chỉ người bệnh của nước nhập khẩu phải thuốc giả mới chịu hậu quả mà ngay cả những người dân các nước sản xuất những viên thuốc đó cũng phải khốn đốn vì chúng.

Loại xirô ho giả do một nhà máy Trung Quốc sản xuất từng cướp đi sinh mạng của  hàng chục người ở Haiti cũng đã gây ra cái chết đột ngột cho gần một trăm người Trung Quốc. Năm 2003, cảnh sát Pháp phát hiện ở khu Barbes (Paris) các loại kem dưỡng da giả do một xưởng sản xuất bí mật nằm ở Tây Nam nước Pháp. Đến năm 2006, hải quan lại tìm thấy trong các hiệu thuốc của người châu Á ở khu Barbes 3.000 viên Viagra giả. Và chỉ chưa đến một năm sau đó, cũng chính ở Paris, một hiệu thuốc đã phải đóng cửa vì bán thuốc chống béo phì làm giả thuốc của hãng Sanofi-Aventis. Vụ làm giả này gây thiệt hại đáng kể về tiền bạc và uy tín thương hiệu của Sanofi-Aventis.

Cuộc chiến chống thuốc giả

Tại Liên hiệp châu Âu, một loại thuốc có thể được lưu hành ở nhiều nước, người ta có thể  mua thuốc ở nơi giá thấp nhất và sau đó lại bán với giá cao hơn. Chính hệ thống phân phối lỏng lẻo này khiến cho việc kiểm soát thuốc trở nên rất khó khăn.

Tuy nhiên trước vấn nạn thuốc giả, chính phủ một số quốc gia đã nỗ lực cải thiện tình hình. Ở Trung Quốc, những kẻ làm thuốc giả có thể bị kết án tử hình, còn ở Mỹ, chúng có thể phải chịu vài năm tù.

Tháng 10-2004, Allen Valentine đã bị kết án tù do làm nhái thuốc Viagra giá rẻ của Ấn Độ và Trung Quốc rồi bán lại cho những kẻ buôn lậu. Ở Pháp, tổ chức Afssaps đã xuất bản hồi tháng 5-2007 một tập sách để cảnh báo công chúng về nguy cơ khi mua phải thuốc giả qua Internet.

Ở Mỹ, lâu nay việc mua bán các sản phẩm y tế qua mạng đã trở thành thói quen của người dân, nay thì các địa chỉ bán thuốc đều phải niêm yết giá và đều phải đăng ký tên tuổi. Còn tại Bồ Đào Nha, tập đoàn Impact dự định tập hợp các luật sư để nghiên cứu đưa ra những cơ sở pháp lý, những quy định phòng chống sản xuất và buôn bán thuốc giả. Những biện pháp này buộc những người phân phối thuốc qua mạng phải có trách nhiệm hơn trong hoạt động của mình.

HƯƠNG GIANG (Theo Ca m’interesse)

Châu Á - Thái Bình Dương lao đao vì kinh tế Mỹ

0
Châu Á - Thái Bình Dương lao đao vì kinh tế Mỹ

Châu Á - Thái Bình Dương lao đao vì kinh tế Mỹ

Trung Quốc và Ấn Độ vẫn là đòn bẩy tăng trưởng của khu vực -Ảnh: AFP

(TBKTSG Online)- Tăng trưởng kinh tế của các nước đang phát triển ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương trong năm 2008 sẽ chậm lại, còn 7,7%, do tác động của kinh tế Mỹ, nhưng Trung Quốc và Ấn Độ vẫn là đòn bẩy tăng trưởng của khu vực.

Theo bản báo cáo của Uỷ ban Kinh tế - Xã hội khu vực châu Á-Thái Bình Dương của Liên hiệp quốc (ESCAP), khu vực châu Á-Thái Bình Dương đang bước vào thời kỳ “bất ổn trầm trọng” và các nền kinh tế hướng vào xuất khẩu sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề nhất từ những gì đang diễn ra trên thị trường tài chính Mỹ.

“Trong hoàn cảnh kinh tế Mỹ trì trệ và đồng đô la xuống giá mạnh, tác động đối với cả khu vực là trầm trọng. Và dễ tổn thương nhất có lẽ là các nhà xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao sang Mỹ như Singapore, Hàn Quốc và Đài Loan”, bản báo cáo nhận định.

Năm 2007, khu vực châu Á-Thái Bình Dương đạt tốc độ tăng trưởng kỷ lục 8,2%. Nhưng hiện nay, các yếu tố mang tính toàn cầu như giá dầu và giá lương thực tăng cao đã gây tổn hại cho khu vực này. Ngay cả các nước giàu có như Nhật Bản, Úc và New Zealand cũng phải chứng kiến tốc độ tăng trưởng sụt giảm, sẽ rớt từ 2% trong năm 2007 xuống còn 1,6% trong năm 2008.

Tuy vậy, hai nền kinh tế là Trung Quốc và Ấn Độ sẽ tiếp tục tăng trưởng và mang lại cơ hội cho các nền kinh tế hướng đến xuất khẩu khác. Ấn Độ hy vọng sẽ duy trì được tốc độ tăng trưởng 9% trong năm 2008. Còn ở Trung Quốc, người ta hy vọng sự gia tăng chi tiêu của Chính phủ sẽ kích thích nhu cầu trong nước.

“Trung Quốc và Ấn Độ, hai đầu tàu tăng trưởng của khu vực, sẽ phát triển mạnh mẽ và kéo theo sự tăng trưởng của cả khu vực”, Shigeru Mochida, Phó tổng thư ký của ESCAP, nhận định.

Các nhà xuất khẩu vốn coi Mỹ là thị trường chủ lực đang phải gánh chịu nhiều tổn thất từ đồng đô la suy yếu, các quyết định hạ lãi suất và sự sụt giảm nhu cầu của người tiêu dùng Mỹ.

Giá lương thực tăng cao cũng là mối quan tâm chính của Liên hiệp quốc hiện nay. ESCAP khuyến nghị các nước trong khu vực hãy cải cách mạnh mẽ đối với ngành nông nghiệp, lĩnh vực có đến 641 triệu người sống trong đói nghèo.

MỸ HẠNH (Theo AFP)

 

Campuchia ngừng xuất khẩu gạo

0
Campuchia ngừng xuất khẩu gạo

Campuchia ngừng xuất khẩu gạo

Thủ tướng Campuchia Hunsen vừa ban hành lệnh cấm xuất khẩu gạo trong vòng 2 tháng sang các nước láng giềng Thái Lan và Việt Nam. Biện pháp nay được đưa ra nhằm kiềm chế đà gia tăng của giá gạo trên thị trường nội địa và được khẳng định là chỉ mang tính tạm thời để đảm bảo an ninh lương thực quốc gia.

Sau khi kết thúc vụ thu hoạch đầu năm nay, nông dân Campuchia sống tại các tỉnh dọc biên giới với Việt Nam và Thái Lan đã bán một lượng lớn gạo qua biên giới, với giá khoảng 500 đô la Mỹ/ tấn, cao gấp đôi mức giá năm ngoái. Nông dân Campuchia vui mừng khi lợi nhuận tăng, nhưng nước này có thể phải đối mặt với nguy cơ thiếu hụt lương thực vào cuối năm nay.

Thủ tướng Hunsen nhận định giá gạo tăng là một vấn đề mang tính toàn cầu. Ông cho biết Chính phủ Campuchia sẽ đưa gạo từ kho dự trữ quốc gia ra thị trường để tránh hiện tượng giá gạo tiếp tục tăng. Các quan chức trong ngành nông nghiệp Campuchia cho biết, sản lượng gạo của nước này đạt 3,6 triệu tấn năm 2007, trong khi lượng gạo cần để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong nước ước khoảng 2 triệu tấn.

Kênh truyền hình quốc gia Campuchia TVK dẫn lời Thủ tướng Hunsen khẳng định là nước này đủ gạo để đáp ứng nhu cầu thị trường và người dân không phải lo lắng thiếu gạo.

(Theo TTXVN)

Diện tích trồng tiêu ở Phú Quốc tăng nhanh 

0
Diện tích trồng tiêu ở Phú Quốc tăng nhanh 

Diện tích trồng tiêu ở Phú Quốc tăng nhanh 

Vườn tiêu ở Phú Quốc. Ảnh: TMB

Sau một thời gian sụt giảm mạnh, diện tích trồng tiêu của huyện đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang đang dần được khôi phục và hiện đã đạt 800 hecta, tương đương với thời điểm cách nay 10 năm.

Tính riêng năm 2007, hơn 300 hecta trồng tiêu được trồng mới, con số chưa năm nào đạt được trước đây. Dự kiến năm 2008, diện tích trồng tiêu ở Phú Quốc sẽ tăng thêm khoảng 200 hecta.

Diện tích trồng tiêu ở Phú Quốc được khôi phục nhanh là do giá bán hạt tiêu ổn định trong hai năm vừa qua, khiến nông dân bắt đầu quay trở lại đầu tư loại cây trồng này.

Vào thời điểm hiện nay, giá bán tại chỗ dao động từ 50.000 đến 60.000 đồng/kg. Giá bán như vậy tuy chưa cao, nhưng đã chấm dứt được thời kỳ thua lỗ và giúp người trồng tiêu trả dần các món nợ vay ngân hàng.

Hiện Phú Quốc đang vào vụ thu hoạch hồ tiêu, năng suất trung bình đạt 3 tấn/ha, cao hơn vụ trước từ 0,8 đến 1 tấn/ha.

(Theo TTXVN)

FED và cuộc cách mạng bất đắc dĩ

0
FED và cuộc cách mạng bất đắc dĩ

FED và cuộc cách mạng bất đắc dĩ

Chủ tịch Cục dự trữ liên bang Mỹ, ông Ben Bernanke -Ảnh: Reuters

(TBKTSG Online)- Cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay, mà nhiều người cho là có quy mô lớn nhất từ sau thời kỳ đại suy thoái, đã khiến Chủ tịch Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED), Ben Bernanke, buộc phải có những bước đi táo bạo.

Người khổng lồ lâm bệnh

Hiện nay, mức chi tiêu trong khu vực cá nhân và hộ gia đình ở Mỹ đang chững lại đáng kể. Điều đó có thể dẫn đến tiếp tục cắt giảm việc làm trong những tháng tới và làm trầm trọng hơn tình trạng suy thoái.

Từ năm 2000 đến nay, người tiêu dùng Mỹ đang gánh trên vai khoản nợ khổng lồ, nhiều hơn cùng kỳ của thập kỷ trước đến 3.000 tỉ đô la Mỹ, theo tính toán của tờ BusinessWeek. Nếu chính quyền không có kế hoạch hỗ trợ, họ cần ít nhất 4-5 năm nữa để “kéo cày” trả nợ.

Điều đáng quan tâm là nhiều tổ chức cho vay không còn là một công ty độc lập như trước. Chẳng hạn, Công ty Countrywide Financial đã cho cá nhân vay mua nhà đến 2.000 tỉ đô la Mỹ từ năm 2000 đến 2006, đang được Ngân hàng trung ương Mỹ thương thảo mua lại. Điều này có thể gây ra những khó khăn đáng kể trong quá trình thu hồi nợ.

Mặt khác, trong mấy năm qua, giá trị đồng đô la Mỹ so với đồng tiền các đối tác thương mại chính của Mỹ đã giảm khoảng 10%. Điều đó kích thích xuất khẩu của Mỹ tăng đến 8%, trong lúc nhập khẩu chỉ tăng 2% trong năm qua. Tuy nhiên, nếu đồng đô la Mỹ trượt giá lâu dài, những nhà đầu tư nước ngoài sẽ thấy giá trị đầu tư của họ ở Mỹ giảm nhanh. Họ sẽ tìm cách rút tiền ra khỏi nước Mỹ và góp phần đẩy giá trị đồng đô la rớt giá nhanh hơn.

Trong tình hình như vậy, vũ khí của Mỹ chỉ có thể là in thêm tiền, và càng làm như thế thì đồng đô la càng tụt dốc nhanh hơn. Dĩ nhiên, các nhà kinh tế không tin một kịch bản như thế sẽ xảy ra.

Do đây vẫn là đồng tiền quan trọng nhất thế giới, một cuộc khủng hoảng nội bộ ở nước Mỹ có thể nhanh chóng lan ra toàn cầu. Các hệ thống tài chính trên thế giới biết tự điều chỉnh, ngân hàng trung ương các nước bắt tay phối hợp cắt giảm lãi suất. Nhưng trước khi điều đó xảy ra, FED đã chứng tỏ rằng, tuy lâm bệnh nhưng nền kinh tế Mỹ không dễ bị quật ngã.

Những động thái kiên quyết

Từ một nhà kinh tế hàn lâm, không quan tâm nhiều đến những “ánh hào quang” quanh chiếc ghế Chủ tịch FED, Bernanke đang buộc phải tiến hành các giải pháp tăng cường mạnh mẽ vai trò của Ngân hàng trung ương Mỹ. Ông đang tạo tiền đề cho những thay đổi lớn sắp tới, dù người ta chưa khẳng định được đó là bùng nổ thực sự hay bùng nổ theo kiểu bong bóng. Trước mắt, Bernanke đang tiến hành một “cuộc chiến” nhằm giữ cho thị trường tài chính Mỹ khỏi sụp đổ.

Động thái lớn nhất và mới nhất của FED là đứng ra làm trung gian môi giới cho vụ JP Morgan Chase mua lại ngân hàng đầu tư Bear Stearns đang rơi vào tình trạng khó khăn, vào ngày 16-3 vừa qua. FED cũng thông báo sẵn sàng cho các công ty môi giới chứng khoán vay trực tiếp, chuyện chưa từng xảy ra trước đây.

Những bước đi đó cho thấy mức độ can thiệp trực tiếp vào thị trường tài chính của FED đang thay đổi và chứng tỏ ông Bernanke sẵn sàng đưa ra bất kỳ biện pháp cần thiết nào để ngăn chặn một thảm họa về mặt tài chính.

Đồng thời, Bernanke cũng tỏ ra khá kiên quyết khi quyết định “bơm” một lượng tiền lớn vào hệ thống tài chính. Dĩ nhiên, rất khó cảm nhận ngay hiệu quả trọn vẹn của việc này, do các ngân hàng đang miễn cưỡng cho vay và người tiêu dùng cũng đang ngại đi vay.

Đi xa hơn người tiền nhiệm

Nhìn chung, Bernanke đang theo đuổi đường lối của cựu chủ tịch FED Alan Greenspan, người từng cho rằng vai trò thích hợp của FED là làm dịu các tác động vào giai đoạn cuối của một quá trình bùng phát chứ không phải cố làm nổ tung “bong bóng” trước. Nhưng có vẻ như Bernanke đang đi xa hơn người tiền nhiệm trong việc đối phó với thời kỳ bong bóng kinh tế đang muốn nổ tung ở Mỹ.

Ông đã sáng tạo ra các phương thức bơm tiền mới vào một hệ thống tài chính còn “sức đề kháng”. Chẳng hạn, theo quy chế tín dụng giao dịch cơ bản được công bố hôm 16-3 vừa qua, FED có thể cho những công ty môi giới như Lehman Brothers vay hàng trăm tỉ đô la Mỹ để giúp những công ty này thoát khỏi tình trạng hoảng loạn như Bear Stearns từng gặp phải. Những giải pháp như vậy được cho là khá “mạnh tay”.

Công ty nghiên cứu Capital Economics, có cơ sở ở London, đã tính toán chỉ số M3 (chỉ số đo lường quy mô khối tiền tệ trong nền kinh tế, bao gồm tiền mặt, các khoản tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi định kỳ có số dư lớn của cá nhân và tổ chức) ở Mỹ đã tăng lên 15% so với một năm trước, mức tăng cao nhất trong vòng 37 năm qua. Với chính sách tiền tệ như vậy, toa thuốc cắt giảm lãi suất càng lúc càng lớn là hệ quả tất nhiên.

Trong quá khứ, đợt suy thoái năm 2001 đã thực sự kết thúc vào tháng 11 năm đó, nhưng ông Greenspan phải duy trì việc cắt giảm lãi suất cho đến hơn hai năm sau đó để tránh giảm phát. Đợt FED cắt giảm lãi suất cuối cùng xuống còn 1% rơi vào tháng 6-2003 và mức lãi suất đó được duy trì cho đến năm 2004.

Sắp tới, Bernanke sẽ phải cân nhắc thận trọng việc thu hồi các nguồn vốn cho vay. Các nhà phân tích cho rằng ông không thể ngưng quá trình kích thích tài chính cho đến khi tổng thống Bush hay người kế nhiệm đưa ra được một kế hoạch giảm gánh nặng của nợ xấu đang tràn lan ở Mỹ.

Kế hoạch đó có thể buộc những tổ chức cho vay giảm mức thế chấp hoặc đưa ra những chương trình loại bỏ nợ xấu trong sổ sách của các định chế tài chính hay các nhà đầu tư. Những chương trình như vậy không thể triển khai trong ngày một ngày hai. Vấn đề lớn cần giải quyết là phân chia những khoản thiệt hại lớn cho các chủ nhà, nhà đầu tư hay người nộp thuế như thế nào.

DANH VĂN (Theo BusinessWeek)

HPT triển khai ERP cho Lucky Group

0
HPT triển khai ERP cho Lucky Group

HPT triển khai ERP cho Lucky Group

Ký kết triển khai dự án giữa HPT và Lucky Group: Ảnh: Tuyết Ân.

(TBKTSG Online) - Sáng 28-3, Công ty cổ phần dịch vụ công nghệ tin học HPT đã ký hợp đồng tư vấn và triển khai hệ thống quản trị nguồn lực doanh nghiệp ERP với Lucky Group.

Theo đó, HPT sẽ cung cấp dịch vụ tư vấn và triển khai hệ thống quản trị nguồn lực doanh nghiệp ERP Oracle eBusiness Suite (EBS) cho Lucky với các phân hệ tài chính (finance), quản lý bán hàng (order management), quản lý mua hàng (purchasing management), quản lý kho (inventory) và thông tin lãnh đạo (daily business intelligent).

Việc triển khai sẽ bắt đầu từ tháng 4 tới và dự kiến đi vào hoạt động trong quí 1-2009.

Lucky Group hiện gồm bốn công ty thành viên hoạt động trong nhiều lĩnh vực như bất động sản, phân phối điện thoại di động, sản xuất và lắp ráp xe gắn máy, đầu tư tài chính…

HPT hiện là đối tác của Oracle tại Việt Nam, nhắm đến lợi thế trong cung cấp dịch vụ triển khai hệ thống Oracle ERP và các dịch vụ phần mềm cho thị trường trọng tâm là phân phối bán lẻ.

TUYẾT ÂN

Xây nhà máy thức ăn gia súc tại Long An  

0
Xây nhà máy thức ăn gia súc tại Long An  

Xây nhà máy thức ăn gia súc tại Long An  

Công nhân nhà máy ANT đang đóng bao bì sản phẩm trên dây chuyền - Ảnh: Lê Toàn.

(TBKTSG Online) - Ngày 28-3, Công ty Asia Nutrition Technologies Việt Nam (ANT) thuộc Tập đoàn Dachan Food Asia (Đài Loan) đã khánh thành nhà máy chế biến thức ăn gia súc, gia cầm và thủy sản tại cụm công nghiệp Long Định - Long Cang, huyện Cần Đước, tỉnh Long An.

Nhà máy ANT được xây dựng trên diện tích 10 hécta, vốn đầu tư là 9 triệu đô la Mỹ, công suất 300.000 tấn/năm, thời gian hoạt động là 48 năm.

Đây là nhà máy thứ ba của Tập đoàn Dachan Food Asia tại Việt Nam, hoạt động sau các nhà máy ANT tại Đồng Nai và ANT tại Hải Dương.

LÊ TOÀN

Giới thiệu PDA tích hợp chuột quang cảm ứng

0
Giới thiệu PDA tích hợp chuột quang cảm ứng

Giới thiệu PDA tích hợp chuột quang cảm ứng

(TBKTSG Online) - SGH-i780, dòng điện thoại PDA đầu tiên tích hợp chuột quang cảm ứng, vừa được Samsung giới thiệu vào thị trường Việt Nam sáng 28-3.

Samsung i780 là dòng điện thoại tích hợp hầu hết các ứng dụng văn phòng và các công nghệ di động; được trang bị chuột quang cảm ứng, bàn phím QWERTY, màn hình gương cảm ứng 65.000 màu, 2,55 inch kết hợp bút stylus và camera 2 megapixel.

Nhờ sử dụng hệ điều hành Windows Mobile 6.0 PPC, i780 cung cấp nhiều tính năng khác cho duyệt web, kiểm tra email, xem file văn bản, ứng dụng giải trí chạy trên Windows Media Player, khả năng kết nối WiFi 802.11 b/g, HSDPA 3.6M/UMTS, Bluetooth 2.0, và tích hợp thiết bị định vị toàn cầu GPS.

Sản phẩm cũng hỗ trợ hầu hết các ứng dụng Internet như Google, Skype, Yahoo!, trình duyệt RSS, Podcasts. Nhờ tích hợp công nghệ không dây Bluetooth 2.0, việc kết nối với các thiết bị số tương thích khác để trao đổi dữ liệu tiện lợi và có thể sử dụng tai nghe không dây cho thoại và âm nhạc di động.

Samsung i780 có thiết kế mỏng 12,9 mm và kích thước 115,9 x 61,3mm. Bộ nhớ 256MB, hỗ trợ thẻ nhớ ngoài microSD. Giá bán 9,49 triệu đồng, khách hàng được tặng kèm thẻ nhớ 1GB.

TUYẾT ÂN